Tổng quan nghiên cứu

Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2005, lực lượng lao động trí thức có trình độ cao đẳng, đại học trở lên tại Việt Nam đạt 1.491.284 người, trong đó trí thức nữ chiếm 605.857 người, tương đương 40,62%. Con số này khẳng định vai trò xung kích không thể tách rời của nữ giới trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở các bậc học hàm và học vị cao nhất, tỷ lệ nữ giới lại sụt giảm mạnh, tiêu biểu là học vị tiến sĩ chỉ đạt 16,46% và chức danh giáo sư chỉ chiếm khoảng 3,3% đến 4,3%. Thực trạng này cho thấy nguồn lực trí tuệ của phụ nữ vẫn chưa được khai phóng tương xứng với tiềm năng to lớn của họ.

Vấn đề cốt lõi mà đề tài tập trung giải quyết là sự thiếu hụt các cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm phát huy tiềm năng lao động sáng tạo của nữ trí thức trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về lao động trí thức nữ, đánh giá thực trạng quy mô, cơ cấu ngành nghề và những rào cản đối với nữ trí thức, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi cao dưới góc độ kinh tế chính trị.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ nền kinh tế quốc dân Việt Nam từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986 đến giai đoạn 2005-2006, trong đó đi sâu phân tích hai lĩnh vực có mật độ trí thức cao nhất là Giáo dục - Đào tạo (nơi lao động nữ chiếm 69,5%) và Khoa học - Công nghệ. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế lao động, nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo doanh nghiệp (vốn chỉ dao động từ 1,7% đến 5% ở các tổng công ty nhà nước giai đoạn 2003) và thúc đẩy bình đẳng giới thực chất tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về giai cấp và phân công lao động xã hội để định vị tầng lớp trí thức. Theo quan điểm của V.I. Lênin, trí thức không tạo thành một giai cấp độc lập do không có mối quan hệ sở hữu riêng biệt đối với tư liệu sản xuất, mà là một tầng lớp xã hội đặc biệt gồm những người lao động trí óc phức tạp, có trình độ học vấn cao, đảm nhiệm chức năng sáng tạo, truyền bá và ứng dụng tri thức khoa học vào sản xuất của cải vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và quan điểm "trí thức hoàn toàn" – người trí thức không chỉ học thuộc lý thuyết sách vở mà phải biết vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đời sống.

Nghiên cứu kết hợp lý thuyết Giới (Gender) và Giới tính (Sex) cùng các tiếp cận hiện đại về tâm - sinh lý học lao động. Khái niệm giới tính được dùng để chỉ các đặc thù sinh học tự nhiên giữa nam và nữ, chẳng hạn như tỷ lệ chất trắng trong não nữ giới cao gấp 10 lần nam giới tạo ưu thế lớn trong xử lý thông tin liên kết và ngôn ngữ, trong khi thể lực của nữ giới thường đòi hỏi tránh các công việc quá tải dài hạn. Khái niệm giới thể hiện vị thế xã hội và quan hệ giới do các yếu tố lịch sử, văn hóa kiến tạo. Các khái niệm chính bao gồm: Lao động trí óc phức tạp, Trí thức nữ, Bình đẳng giới và Tái sản xuất sức lao động chất lượng cao. Khung phân tích khẳng định người nữ trí thức mang bản sắc kép: vừa thực hiện chức năng sáng tạo khoa học như mọi trí thức, vừa gánh vác thiên chức thiêng liêng làm vợ, làm mẹ trong gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ các cơ sở dữ liệu thống kê quốc gia có quy mô lớn và độ tin cậy cao: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999 (khảo sát trên 62,25 triệu dân số từ 15 tuổi trở lên), Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2005 do Tổng cục Thống kê tiến hành với cỡ mẫu toàn diện gồm 10.793.376 lao động đã qua đào tạo, cùng kết quả điều tra chọn mẫu từ đề tài khoa học cấp nhà nước mã số ĐTĐL-2003/27 năm 2006 tại các trường đại học và viện nghiên cứu.

Phương pháp chọn mẫu trong đề tài nghiên cứu chuyên sâu được thực hiện theo nguyên tắc phân tầng ngẫu nhiên đại diện cho 17 ngành kinh tế quốc dân và 8 vùng kinh tế - sinh thái trên cả nước. Luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, trừu tượng hóa khoa học, phân tích tổng hợp và phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân trí thức nữ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, vừa lượng hóa chính xác bức tranh cơ cấu nhân lực trí thức bằng các chỉ số thống kê, vừa đi sâu giải mã những rào cản vô hình về định kiến giới và xung đột tâm lý từ góc độ kinh tế chính trị và xã hội học. Toàn bộ quá trình thu thập và phân tích dữ liệu được hoàn thiện trong lộ trình nghiên cứu từ năm 2004 đến năm 2006.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất: Quy mô lực lượng lao động trí thức nữ gia tăng nhanh chóng nhưng có sự phân tầng học vị dạng hình tháp ngược. Vào ngày 1/7/2005, cả nước có 605.857 nữ trí thức có trình độ cao đẳng trở lên. Tuy nhiên, nữ giới tập trung đông nhất ở trình độ cao đẳng với 233.872 người (chiếm 56,34% tổng số lao động cao đẳng cả nước), ở trình độ đại học đạt 360.912 người (chiếm 34,93%), nhưng đến trình độ thạc sĩ giảm xuống còn 8.903 người (chiếm 29,59%) và ở trình độ tiến sĩ chỉ còn 2.170 người (chiếm 16,46%). So với năm 1999, tỷ lệ nữ sau đại học có tăng nhẹ từ 24,8% lên 25,6% vào năm 2005, song khoảng cách về học vị cao giữa hai giới vẫn còn rất lớn.

Phát hiện thứ hai: Sự phân bố trí thức nữ theo ngành nghề thể hiện sự tập trung cao độ vào khu vực dịch vụ công và giáo dục. Ngành Giáo dục và Đào tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 779.923 lao động nữ (chiếm 69,5% lực lượng lao động toàn ngành), trong đó có 5.323 nữ thạc sĩ (36,1%) và 1.098 nữ tiến sĩ (19,1%). Ngành Y tế và Cứu trợ xã hội có 149.100 nữ (59,8%), sở hữu 689 nữ thạc sĩ (28,3%) và 145 nữ tiến sĩ (21,6%). Ngược lại, tại các ngành kỹ thuật công nghiệp, tỷ lệ nữ sau đại học rất thấp: ngành Xây dựng chỉ đạt 12,19% và Sản xuất phân phối điện, khí đốt đạt 11,81%.

Phát hiện thứ ba: Tình trạng mất cân đối nghiêm trọng theo không gian địa lý. Khoảng 90% số lượng tiến sĩ của cả nước tập trung tại vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, riêng Hà Nội chiếm 63,82% và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 19,33%. Hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên cộng lại chưa đạt 1% tổng số tiến sĩ toàn quốc, mặc dù tại Tây Bắc, tỷ lệ nữ trong tổng số người có trình độ sau đại học của vùng đạt mức tương đối cao là 39,08% (111 người trên tổng số 284 người).

Phát hiện thứ tư: Khả năng tham gia nghiên cứu khoa học và điều hành kinh tế của nữ trí thức đạt nhiều thành tựu vượt bậc nhưng tỷ lệ chủ trì vẫn thấp hơn nam giới. Kết quả khảo sát hoạt động khoa học công nghệ cho thấy nữ giới đảm nhận 42,4% vai trò chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở, 46,9% chủ nhiệm viết bài báo khoa học, nhưng chỉ làm chủ nhiệm 34,6% đề tài cấp Bộ và 17,2% đề tài cấp Nhà nước. Đáng chú ý, nhiều nữ khoa học gia đã tạo ra sản phẩm đột phá, điển hình là thiết bị đo nồng độ cồn Nano NPO-2005 chỉ nặng 500g của nhóm nghiên cứu do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Toàn chủ trì tại Viện Khoa học Vật liệu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự chênh lệch học vị và cương vị lãnh đạo bắt nguồn từ áp lực của "vai trò kép". Người phụ nữ vừa phải phấn đấu chuyên môn, vừa phải gánh vác việc gia đình. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng một nữ giảng viên đại học bình quân phải dành 4,5 giờ mỗi ngày cho công việc gia đình, 9,2 giờ cho công tác chuyên môn tại trường và chỉ còn 6,4 giờ cho nghỉ ngơi, phục hồi thể lực. Có tới 54% nữ giảng viên phản ánh tình trạng căng thẳng quỹ thời gian và 55% chịu áp lực nặng nề trong việc cân bằng trách nhiệm gia đình và sự nghiệp.

So với lịch sử phong kiến khi 97% phụ nữ mù chữ trước năm 1945 hay giai đoạn năm 1964 khi nữ trí thức chỉ chiếm 14,3%, sự phát triển hiện nay là một bước tiến vượt bậc. Tuy nhiên, định kiến giới truyền thống "trọng nam khinh nữ" vẫn thẩm thấu vào nhận thức xã hội, khiến phụ nữ dễ bị đánh giá thấp hoặc tự ti, an phận. Tại các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ nữ tham gia cơ cấu lãnh đạo còn rất khiêm tốn: Tổng giám đốc Tổng công ty 91 chỉ đạt 5%, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty 90 chỉ đạt 1,7%. Để làm nổi bật trực quan các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện tối ưu qua biểu đồ tròn so sánh tỷ lệ học vị theo giới tính và biểu đồ cột phản ánh sự chênh lệch nam - nữ qua 15 nhóm hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng và quy hoạch cán bộ trí thức nữ. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục đại học cần nới rộng độ tuổi được cử đi đào tạo sau đại học và nhận học bổng nghiên cứu sinh cho phụ nữ thêm từ 3 đến 5 tuổi so với nam giới (áp dụng độ tuổi 40-45 tuổi thay vì khống chế dưới 35-40 tuổi), hoàn thành xây dựng quy chế bổ sung trước năm 2008 nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ sau giai đoạn sinh con được học tập nâng cao trình độ.

Thứ hai, sửa đổi chính sách tuổi nghỉ hưu theo hướng linh hoạt và bình đẳng giới. Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần sớm sửa đổi quy định trong Bộ luật Lao động, cho phép các nữ trí thức có học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến sĩ có nguyện vọng và đủ sức khỏe được kéo dài tuổi làm việc tương đương với nam giới (từ 55 tuổi lên 60 tuổi hoặc 65 tuổi), triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2007-2010 nhằm tránh lãng phí chất xám đỉnh cao của nữ chuyên gia.

Thứ ba, cải cách chính sách tiền lương và phát triển hệ thống dịch vụ xã hội hóa hỗ trợ gia đình. Chính phủ cần điều chỉnh thang bảng lương đối với lao động trí óc phức tạp, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển dịch vụ công cộng, hệ thống nhà trẻ chất lượng cao và mạng lưới thiết bị gia dụng hiện đại tại các khu công nghiệp, đô thị. Mục tiêu giúp cắt giảm ít nhất 30% thời gian làm việc nhà không tên của nữ trí thức trong lộ trình đến năm 2010.

Thứ tư, thành lập quỹ tài trợ nghiên cứu và tôn vinh tài năng khoa học nữ. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ mở rộng các giải thưởng khoa học uy tín, hình thành các quỹ hỗ trợ đề tài do nữ giới làm chủ nhiệm, phấn đấu nâng tỷ lệ nữ chủ nhiệm đề tài khoa học cấp Bộ và cấp Nhà nước lên mức trên 30% đến 40% trong giai đoạn 2006-2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Các nhà hoạch định chính sách tại Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Luận văn cung cấp số liệu thực chứng để xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực và hoàn thiện khung pháp lý về bình đẳng giới trong khu vực công.

Nhóm thứ hai: Hội đồng trường và Ban giám hiệu các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học trên toàn quốc. Các nhà quản lý giáo dục có thể sử dụng các phát hiện của luận văn để thiết kế chính sách hỗ trợ kinh phí, giảm trừ giờ giảng và phân bổ nguồn lực nghiên cứu khoa học bình đẳng cho giảng viên nữ.

Nhóm thứ ba: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản trị nhân lực, Xã hội học và Giới trong phát triển. Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận đa ngành và khung phân tích phân công lao động xã hội theo giới.

Nhóm thứ tư: Nữ trí thức, nhà khoa học trẻ và các nữ doanh nhân khởi nghiệp. Luận văn cung cấp góc nhìn sâu sắc về những rào cản tâm lý xã hội, giúp phụ nữ chủ động xây dựng chiến lược phát triển sự nghiệp cá nhân, vượt qua tâm lý mặc cảm tự ti và hài hòa hiệu quả giữa công việc và cuộc sống gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ lao động trí thức nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên tại Việt Nam phân bố như thế nào? Theo số liệu Tổng điều tra năm 2005, trí thức nữ có trình độ cao đẳng trở lên đạt 605.857 người, chiếm 40,62% tổng số trí thức cả nước. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm dần ở các bậc học cao: chiếm 56,34% ở bậc cao đẳng, 34,93% ở bậc đại học, 29,59% ở bậc thạc sĩ và chỉ đạt 16,46% ở bậc tiến sĩ.

Lao động trí thức nữ tập trung nhiều nhất ở những lĩnh vực ngành nghề nào? Ngành Giáo dục và Đào tạo là lĩnh vực tập trung đông đảo trí thức nữ nhất với 779.923 người, chiếm 69,5% tổng lao động toàn ngành. Lĩnh vực Y tế và cứu trợ xã hội đứng thứ hai với tỷ lệ nữ đạt 59,8%, trong khi các ngành công nghiệp nặng và khai thác mỏ chỉ có từ 12% đến 18% trí thức nữ.

Đâu là những rào cản chủ yếu hạn chế sự phát triển của đội ngũ trí thức nữ? Rào cản lớn nhất là áp lực quỹ thời gian từ thiên chức làm vợ, làm mẹ khi nữ giảng viên phải dành trung bình 4,5 giờ mỗi ngày cho công việc gia đình. Cùng với đó là tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ" và độ tuổi nghỉ hưu sớm hơn nam giới 5 năm làm thu hẹp cơ hội cống hiến chuyên môn.

Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu của luận văn được thực hiện ra sao? Luận văn khai thác dữ liệu từ Tổng điều tra cơ sở kinh tế năm 2005 với quy mô 10,79 triệu lao động đã qua đào tạo, kết hợp dữ liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 và khảo sát chọn mẫu đại diện từ đề tài ĐTĐL-2003/27 tại hệ thống các viện, trường đại học trên cả nước để phân tích.

Có dẫn chứng thực tiễn nào về thành tựu nghiên cứu khoa học nổi bật của nữ trí thức? Tiêu biểu là công trình chế tạo máy đo nồng độ cồn trong hơi thở Nano NPO-2005 của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Toàn tại Viện Khoa học Vật liệu. Thiết bị chỉ nặng 500g, lưu trữ 999 kết quả đo, minh chứng cho năng lực sáng tạo công nghệ cao phục vụ đời sống của các nhà khoa học nữ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận kinh tế chính trị và lý thuyết giới về vai trò động lực của lao động trí thức nữ trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng sinh động với số liệu minh chứng 605.857 nữ trí thức (chiếm 40,62%), đồng thời chỉ rõ sự hụt hẫng ở bậc học vị tiến sĩ (chỉ đạt 16,46%).
  • Nhận diện sâu sắc nguyên nhân rào cản xuất phát từ áp lực 4,5 giờ việc nhà mỗi ngày kết hợp với định kiến xã hội và bất cập trong quy định tuổi nghỉ hưu.
  • Khẳng định đóng góp to lớn của nữ trí thức trên mọi mặt trận từ giảng dạy, quản lý doanh nghiệp đến các sáng chế công nghệ cao như thiết bị nano y sinh.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về kéo dài độ tuổi đào tạo sau đại học, điều chỉnh luật lao động về tuổi hưu và nâng cấp an sinh xã hội cho gia đình.

Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chức năng đẩy mạnh khảo sát, đánh giá định kỳ tác động của hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức đối với sự phát triển của nguồn nhân lực nữ trong giai đoạn 2010-2020. Các bộ, ban, ngành, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần chung tay hiện thực hóa các khuyến nghị chính sách, tạo môi trường thuận lợi để giải phóng toàn diện năng lực sáng tạo của nữ trí thức, góp phần xây dựng một Việt Nam phồn vinh, công bằng và văn minh.