CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo Trong lĩnh vực lãnh đạo, việc nghiên cứu về năng lực lãnh đạo và ảnh hưởng của năng lực lãnh đạo đến kết quả lãnh đạo doanh nghiệp/ tổ chức có vai trò đặc biệt quan trọng. Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và có nhiều đóng góp cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Tùy theo đối tượng, bối cảnh và mục tiêu nghiên cứu mà các tác đi sâu nghiên cứu, xem xét một hay một số loại hình năng lực cơ bản tạo nên năng lực lãnh đạo nói chung và đánh giá sự ảnh hưởng của các loại hình năng lực này đến kết quả lãnh đạo doanh nghiệp/ tổ chức. Tuy nhiên, trong phạm vi giới hạn về các nguồn lực, dựa trên mô hình nghiên cứu: LQ = IQ + EQ + XQ (Surinder, S., August 2012), tác giả chỉ đi sâu tổng quan những vấn đề cơ bản nhất gắn với nội dung nghiên cứu của mình, đó là những yếu tố chính cấu thành năng lực lãnh đạo (Leadership Quotient-LQ) gồm: năng lực tư duy (Intelligence Quotient-IQ); năng lực cảm xúc (Emotional Quotient-EQ); năng lực huy động sự ủng hộ (eXecution Quotient-XQ) và kết quả lãnh đạo nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu của luận án. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực tư duy (Intelligence Quotient-IQ) Trong thế kỷ 20, lần đầu tiên Intelligence Quotient (IQ) được giới thiệu với thế giới. Theo đó, Intelligence Quotient (IQ) là khả năng tiếp thu, phân loại, xử lý và ghi nhớ thông tin của con người (Anonymous, 2015).
Đối với lĩnh vực lãnh đạo thì IQ được đánh giá là một trong những năng lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về loại hình năng lực này. Đề tài nghiên cứu “Nâng cao năng lực lãnh đạo của các giám đốc điều hành doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” tác giả đã cho rằng, năng lực lãnh đạo được hiểu là toàn bộ “đặc tính cá nhân, kiến thức, kỹ năng” mà một giám đốc điều hành cần phải có để lãnh đạo doanh nghiệp. Qua đó, kiến thức được xem như là yếu tố đầu tiên mà bất kỳ người lãnh đạo nào cũng phải có, giúp nhà lãnh đạo xử lý thành công các hoạt động lãnh đạo (Trần Thị Vân Hoa, 2011).
Tiếp đến, tác giả của bài viết “Năng lực lãnh đạo và điều hành của CEO Việt Nam trong môi trường kinh doanh đầy biến động” cũng khẳng định năng lực lãnh đạo phải dựa trên kỹ năng lãnh đạo gồm: “sự quyết đoán, sáng tạo, hiểu biết về quản lý điều hành …” và ở đây hiểu biết được xem như là biểu hiện của khả năng tư duy của các nhà lãnh đạo 7 (Nguyễn Mạnh Hùng, 2012). Đồng quan điểm trên, để “đánh giá năng lực giám đốc điều hành doanh nghiệp nhỏ Việt Nam, qua mô hình ASK”, một nhóm tác giả đã “đưa ra tiêu chuẩn nghề nghiệp đối với các chức danh công việc trong tổ chức” như: Kỹ năng (Skills), Kiến thức (Knowledge) và luận giải “Kiến thức là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực tư duy của các nhà lãnh đạo” (Lê Quân & Nguyễn Quốc Khánh, 2012). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu khác thì cho rằng: “thông minh là đặc tính liên quan chặt chẽ đến người lãnh đạo bất kể trong bối cảnh nào” (Lord, R. Tương tự như vậy, một nghiên cứu nữa cũng đã phát hiện ra “sự thông minh hơn người, tự tin, vượt trội” là những đặc tính không thể thiếu được của các nhà lãnh đạo (Smith, J.
Như vậy, qua các nghiên cứu trên cho thấy kiến thức, hiểu biết, sự thông minh có quan hệ chặt chẽ với năng lực tư duy đồng thời khẳng định kiến thức, hiểu biết, thông minh và thông minh hơn người là những đặc tính quan trọng không thể thiếu được của các nhà lãnh đạo, tạo nên năng lực lãnh đạo giúp lãnh đạo thành công doanh nghiệp/ tổ chức. Nghiên cứu “Những điều cốt yếu của lãnh đạo” đã luận giải và tìm ra những năng lực cần thiết của người lãnh đạo, đó là: “có chiến lược, có khả năng đổi mới, khả năng đối mặt với những vấn đề phức tạp hay thay đổi” (Michel Robert, 1991). Tác giả của nghiên cứu “Lý thuyết lãnh đạo phức tạp” cũng nhận thấy các nhà lãnh đạo có rất nhiều phức tạp trong nhận thức và hành vi, đôi khi có những hành vi trái ngược nhau nhằm phản ứng với sự thay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh hay tình huống cụ thể nào đó (Denison, D. Đồng quan điểm như trên, các tác giả công trình nghiên cứu “lãnh đạo và công việc của người quản trị” đã khẳng định năng lực của lãnh đạo gồm: “sự quyết đoán, khả năng phản ứng với môi trường bên ngoài, khả năng trao quyền và có tầm nhìn xuất chúng” (Barach, J.
Trong “Chìa khóa thành công: IQ hay EQ, AQ, PQ, SQ, CQ?” thì cho rằng, “IQ (Intelligence Quotient) đo lường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống, năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ…” (Trung Võ, 2016). Với một góc nhìn cụ thể hơn, tác giả luận án tiến sĩ “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ Giám đốc doanh nghiệp nhà nước - khảo sát nghiên cứu ở tỉnh Nam Định” , đã “nghiên cứu vai trò người giám đốc trong phạm vi khối doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định” và cho rằng, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này phải nâng cao khả năng tư duy của họ (Trần Văn Đẩu, 2001). Tương tự như vậy, bài viết “Năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở ngoại thành thành phố Hà Nội” cũng đề cập đến sự ảnh hưởng của khả năng tư duy, phán đoán tình hình của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đến quá trình ra quyết định 8 lãnh đạo phát triển KT-XH địa phương (Trần Nhật Duật, 2009). Gắn với khu vực miền núi, nghiên cứu “Nguồn nhân lực-yếu tố quyết định sự phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng dân tộc, miền núi” cũng đã phân tích “khả năng tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo-một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực có ảnh hưởng mang tính quyết định đối với sự phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh” trên địa bàn (Hoàng Xuân Lương, 2013).
Căn cứ vào góc độ nghiên cứu và cơ chế tác động của hoạt động lãnh đạo, một nhóm các nhà nghiên cứu đã xem xét sự liên quan giữa khả năng tư duy và quá trình tư duy của nhà lãnh đạo với hoạt động lãnh đạo; cách tiếp cận này nhấn mạnh đến quá trình nhà lãnh đạo tư duy, lựa chọn và ra quyết định, tác động đến suy nghĩ và hành động của nhân viên dưới quyền (Morela Hernandez, et al. Từ các nghiên cứu trên cho thấy, nhà lãnh đạo luôn đối mặt với những vấn đề phức tạp, thường xuyên thay đổi, do đó họ phải có khả năng tư duy nhạy bén, phản ứng nhanh chóng với sự biến động của hoàn cảnh cũng như môi trường bên ngoài, đồng thời khẳng định: khả năng tư duy, quá trình tư duy có liên quan chặt chẽ và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động lãnh đạo/ quản lý. Luận án tiến sĩ “Năng lực lãnh đạo của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” đã đưa ra mô hình năng lực lãnh đạo gồm 07 năng lực nhỏ: “tầm nhìn chiến lược; động viên khuyến khích; gây ảnh hưởng; khả năng ra quyết định; phân quyền ủy quyền; hiểu mình-hiểu người; giao tiếp lãnh đạo” (Đặng Ngọc Sự, 2011). Công trình nghiên cứu “cải thiện hiệu suất lãnh đạo: kỹ năng giữa các cá nhân cho lãnh đạo hiệu quả” cũng đã kết luận: “năng lực lãnh đạo liên quan đến kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng ra quyết định, khả năng nhận thức và truyền thông phi ngôn ngữ” (Wright, P.
Theo cách tiếp cận khác, tác giả của nghiên cứu “Sớm nắm bắt xu hướng phát triển mới của thực tiễn-Điều kiện quyết định để phát triển bền vững” đưa ra đòi hỏi về tầm nhìn và khả năng ban hành những quyết sách của các nhà lãnh đạo nhằm “sớm nắm bắt xu hướng phát triển của thời đại cũng như của thực tiễn, xem đây là điều kiện quyết định để phát triển bền vững” (Trần Ngọc Hiên, 2012). Tương tự như vậy, bài viết “Nguyên nhân của những quyết định quản lý bất hợp pháp, bất hợp lý” cũng chỉ ra những nguyên nhân của các quyết định quản lý bất hợp pháp, bất hợp lý, trong đó nguyên nhân cơ bản thuộc về đội ngũ lãnh đạo, mà nguồn gốc sâu xa do sự yếu kém trong khả năng ra quyết định của những người đứng đầu các cơ quan công quyền (Bùi Huy Khiên-Thái Văn Hà, 2013). Qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, khả năng ra quyết định là một trong những năng lực lãnh đạo quan trọng và là kết quả quá trình tư duy của nhà lãnh đạo nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động lãnh đạo đối với doanh nghiệp/ tổ chức. 9 Trong khu vực hành chính công, năng lực của lãnh đạo đã và đang được nhiều quốc gia quan tâm.
“Cẩm nang Khung năng lực” của Học viện Hành chính Quốc gia Pháp đã đưa ra khung năng lực, theo đó, “tầm nhìn và định hướng, khả năng ra quyết định” là một trong những tiêu chí năng lực bắt buộc của các nhà lãnh đạo (Horton, S. Khung năng lực lãnh đạo khu vực công ở Anh cũng chỉ ra: “khả năng xác định rõ mục đích; khả năng tư duy chiến lược; khả năng học tập và phát triển” là những năng lực cốt lõi của các nhà lãnh đạo (Horton, S. Đối với Canada, khung năng lực lãnh đạo đòi hỏi nhất thiết phải có năng lực về “chiến lược” hay tư duy, tầm nhìn chiến lược (Boyatzis, R. Chính phủ Malaysia thì đưa ra khung năng lực lãnh đạo ở khu vực công gồm 03 nhóm năng lực, trong đó có “nhóm năng lực chuyên môn là tập hợp kiến thức và kỹ năng cơ bản để lãnh đạo chuyên nghiệp” (Azmi, I.
Ở Việt Nam, nhóm tác giả của “Nghiên cứu ứng dụng khung năng lực vào phát triển nhân lực lãnh đạo, quản lý khu vực hành chính công vùng Tây Bắc” cho rằng, các nhà lãnh đạo cần có bằng cấp, chứng chỉ, chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu địa phương. (Lê Quân & cộng sự.