Tổng quan nghiên cứu

Trải qua hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến năm 2001, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã từng bước được xác lập vững chắc. Trong tiến trình này, khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên tục đóng góp từ 40% đến 46% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và nắm giữ khoảng 86,6% tổng nguồn vốn sản xuất của toàn xã hội. Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là công cụ vật chất đắc lực để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô và định hướng mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn 1996 - 2000, khu vực kinh tế nhà nước bộc lộ rõ những dấu hiệu suy giảm hiệu quả. Dù nắm giữ tới 85% tài sản cố định, 100% mỏ khoáng sản và 80% diện tích tài nguyên rừng, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của các doanh nghiệp nhà nước liên tục sụt giảm từ 11,2% năm 1996 xuống chỉ còn 9,2% năm 1999. Bên cạnh đó, tổng khối lượng nợ tồn đọng chạm mốc 31.218 tỷ đồng và hơn 60% doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả hoặc thua lỗ kéo dài.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phân tích thực trạng sắp xếp, chuyển đổi mô hình sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1991 - 2001, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm đổi mới thể chế, đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức kinh tế công lập trên phạm vi toàn quốc, với các điển hình cụ thể tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định và Thanh Hóa trong khung thời gian 1991 - 2001, tầm nhìn đến năm 2005.

Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng để tái cơ cấu thành công 5.571 doanh nghiệp nhà nước, tối ưu hóa khối tài sản công trị giá gần 116.000 tỷ đồng, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 7% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa các học thuyết kinh tế chính trị kinh điển và lý thuyết quản trị hiện đại:

Thứ nhất, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần là tất yếu khách quan, phản ánh tính chất đan xen giữa các phương thức sản xuất.

Thứ hai, lý luận của V.I. Lê-nin về chính sách kinh tế mới (NEP) và vai trò của nhà nước chuyên chính vô sản. Nhà nước đóng vai trò là "bà đỡ", trực tiếp tham gia tổ chức, định hướng và quản lý kinh tế thông qua việc nắm giữ các huyết mạch then chốt mà không triệt tiêu các thành phần kinh tế tư nhân hay tư bản nhà nước.

Thứ ba, lý thuyết kinh tế học hiện đại về "hai bàn tay" của Paul Samuelson, nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa cơ chế thị trường tự điều tiết và sự can thiệp vĩ mô của nhà nước nhằm khắc phục các khuyết tật thị trường như độc quyền, phân hóa giàu nghèo và khủng hoảng chu kỳ.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ 5 khái niệm nòng cốt:

  • Kinh tế nhà nước: Toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, bao gồm hệ thống doanh nghiệp và hệ thống phi doanh nghiệp (tài nguyên, ngân sách, quỹ dự trữ).
  • Vai trò chủ đạo: Khả năng chi phối, dẫn dắt, ổn định kinh tế vĩ mô và mở đường cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
  • Cổ phần hóa: Quá trình đa dạng hóa sở hữu, xã hội hóa tư liệu sản xuất nhằm chuyển đổi hình thức thực hiện chế độ công hữu, hoàn toàn phân biệt với tư nhân hóa.
  • Doanh nghiệp nhà nước: Doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ hoặc nắm giữ cổ phần chi phối.
  • Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Mô hình kinh tế vận hành theo quy luật thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VIII, IX, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, cùng hệ thống báo cáo kiểm kê tài chính của Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong suốt giai đoạn 1991 - 2001.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn diện 5.571 doanh nghiệp nhà nước với tổng số vốn 116.000 tỷ đồng, kết hợp khảo sát chọn mẫu đại diện tại 771 doanh nghiệp đã hoàn tất cổ phần hóa, 105 đơn vị chuyển đổi theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP, cùng 17 Tổng công ty 91 và 77 Tổng công ty 90. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn (đô thị lớn và tỉnh công nghiệp) và theo ngành kinh tế mũi nhọn (dệt may, năng lượng, viễn thông, cơ khí) được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao.

Các phương pháp phân tích chính bao gồm:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nhìn nhận sự chuyển đổi thể chế kinh tế trong mối quan hệ vận động khách quan.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh định lượng: Đánh giá các chỉ số tài chính vi mô như tỷ suất lợi nhuận trên vốn (ROE, ROA), hệ số nợ, tốc độ tăng trưởng doanh thu trước và sau sắp xếp.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp thể chế: Đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật với diễn biến thực tế tại cơ sở sản xuất.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan tuyệt đối, vừa kiểm chứng được tính đúng đắn của đường lối chính trị, vừa cung cấp số liệu thực nghiệm chuẩn xác phục vụ hoạch định chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thực trạng kinh tế nhà nước giai đoạn 1991 - 2001 mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, công tác sắp xếp thu gọn đầu mối đạt bước tiến vượt bậc nhưng quy mô doanh nghiệp còn manh mún. Qua 3 đợt sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã giảm 55%, từ 12.300 đơn vị xuống còn 5.571 đơn vị. Vốn bình quân một doanh nghiệp tăng từ 3,3 tỷ đồng lên 21 tỷ đồng. Tuy nhiên, doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo tới 65,4%, cho thấy tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung.

Thứ hai, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực sinh lời của khu vực quốc doanh có xu hướng sụt giảm rõ rệt. Năm 1995, 1 đồng vốn tạo ra 3,16 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận, nhưng đến năm 1998 chỉ còn tạo ra 2,9 đồng doanh thu và 0,14 đồng lợi nhuận. Đến cuối năm 1999, chỉ có 20% đến 40% doanh nghiệp kinh doanh thực sự có lãi, 20% thua lỗ nặng nề, và 40% còn lại ở trạng thái hòa vốn bấp bênh.

Thứ ba, sự tương phản lớn về hiệu quả đóng góp ngân sách giữa các khu vực kinh tế. Năm 1998, khu vực công nghiệp nhà nước nắm giữ 47,4% vốn và 28,5% lao động toàn ngành nhưng chỉ đóng góp 40,7% thu ngân sách. Ngược lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 46,7% vốn và 8,2% lao động nhưng đã đóng góp tới 56,8% tổng số thu ngân sách công nghiệp. Tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp nhà nước năm 1997 chỉ đạt 17,2%, thấp hơn nhiều so với mức 46,2% của khu vực FDI và 46,6% của khu vực ngoài quốc doanh.

Thứ tư, cổ phần hóa và đổi mới hình thức quản lý tạo bước nhảy vọt về năng suất. Đối với 105 doanh nghiệp thực hiện giao, bán, khoán và cho thuê, sau chuyển đổi ghi nhận vốn kinh doanh tăng 67,3%, doanh thu tăng 42,5%, nộp ngân sách tăng 44,5%, số lao động tăng 12,8% và thu nhập bình quân người lao động tăng 38,7% (từ 280.000 đồng/tháng lên gần 390.000 đồng/tháng). Trong số 279 công ty cổ phần mới thành lập có vốn nhà nước, có tới 267 đơn vị (chiếm 96,4%) hoạt động có lãi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm hiệu quả bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại sâu sắc:

Về công nghệ, thiết bị sản xuất của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu so với khu vực từ 10 đến 30 năm; trình độ tự động hóa dưới 10%, mức hao mòn hữu hình từ 30% đến 50%. Điều này khiến giá thành sản phẩm then chốt như sắt thép, xi măng cao hơn giá nhập khẩu từ 20% đến 40%, cá biệt đường thô cao hơn 70% đến 80%. Đến tháng 10/2000, toàn quốc mới có 236 doanh nghiệp đạt chứng chỉ ISO 9000, trong đó chỉ có 97 doanh nghiệp nhà nước.

Về thể chế và quản trị, tình trạng can thiệp hành chính của cơ quan chủ quản vẫn đè nặng lên quyền tự chủ kinh doanh. Khoảng 67% giám đốc doanh nghiệp nhà nước năm 2000 chưa đọc hiểu báo cáo tài chính thường niên. Tình trạng nợ nần dây dưa không được xử lý dứt điểm khi nợ phải trả lên tới 109% vốn nhà nước, cùng với khoảng 100.000 lao động dôi dư chưa có cơ chế giải quyết an sinh thỏa đáng.

Về mặt học thuật, các kết quả so sánh trước và sau cổ phần hóa có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột kép thể hiện mức tăng trưởng vốn (67,3%) và doanh thu (42,5%), cùng bảng phân bổ cơ cấu vốn giữa các thành phần kinh tế. Các bằng chứng này chứng minh thuyết phục rằng việc chuyển đổi sở hữu không làm mất đi vai trò của kinh tế nhà nước mà ngược lại, giúp nâng cao chất lượng thực chất của chế độ công hữu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý và tách bạch chức năng đại diện chủ sở hữu.

  • Hành động: Ban hành Luật Cạnh tranh, sửa đổi Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Phá sản; xóa bỏ triệt để cơ chế bộ chủ quản can thiệp sâu vào sản xuất kinh doanh.
  • Chỉ số mục tiêu: Đạt 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện kiểm toán độc lập bắt buộc hàng năm và công khai báo cáo tài chính.
  • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2001 - 2003.
  • Chủ thể thực hiện: Quốc hội, Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Thứ hai, đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với thị trường tài chính và xử lý nợ tồn đọng.

  • Hành động: Thành lập Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp; đưa giá trị quyền sử dụng đất vào định giá cổ phần hóa; thí điểm bán đấu thầu cổ phần công khai qua các định chế tài chính trung gian.
  • Chỉ số mục tiêu: Xử lý dứt điểm 31.218 tỷ đồng nợ xấu quá hạn; hoàn thành cổ phần hóa hơn 1.000 doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ.
  • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2001 - 2004.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ban Chỉ đạo Đổi mới Doanh nghiệp Trung ương.

Thứ ba, tập trung nguồn lực xây dựng các Tổng công ty và Tập đoàn kinh tế mũi nhọn.

  • Hành động: Kiện toàn 17 Tổng công ty 91 và 77 Tổng công ty 90; thực hiện sáp nhập các đơn vị yếu kém để hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh hoạt động đa ngành, giữ vị trí chi phối trong các ngành xương sống như năng lượng, viễn thông, dầu khí, hóa chất.
  • Chỉ số mục tiêu: Bảo đảm vốn điều lệ tối thiểu của mỗi tổng công ty đạt từ 500 tỷ đồng trở lên; nâng mức đóng góp doanh thu tăng trưởng trên 15%/năm.
  • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2001 - 2005.
  • Chủ thể thực hiện: Thủ tướng Chính phủ, các Bộ quản lý chuyên ngành và Hội đồng Quản trị các Tổng công ty nhà nước.

Thứ tư, đổi mới công tác cán bộ và thực hiện chính sách an sinh cho lao động dôi dư.

  • Hành động: Áp dụng cơ chế thi tuyển công khai chức danh giám đốc điều hành; sử dụng Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp để chi trả trợ cấp mất việc và đào tạo lại nghề.
  • Chỉ số mục tiêu: Giải quyết việc làm và chế độ chính sách dứt điểm cho 150.000 đến 200.000 lao động dôi dư; nâng tỷ lệ giám đốc thành thạo kỹ năng quản trị tài chính lên 100%.
  • Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2001 - 2003.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Các chuyên viên thuộc Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có thể khai thác hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và thiết kế các gói an sinh xã hội cho người lao động.

  2. Cán bộ quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước: Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc các Tổng công ty và giám đốc doanh nghiệp tìm thấy các bài học kinh nghiệm thực tiễn về quy trình xác định giá trị doanh nghiệp, phương pháp bán cổ phần trả chậm cho công nhân, và chiến lược tái cơ cấu bộ máy quản trị thích ứng với kinh tế thị trường.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành kinh tế: Các viện nghiên cứu, trường đại học sử dụng tài liệu làm tài liệu tham khảo giảng dạy môn Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, Quản lý Kinh tế, và Lịch sử Kinh tế Việt Nam, đặc biệt là nguồn dẫn chứng về thời kỳ quá độ và quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế.

  4. Chuyên gia tư vấn tài chính và nhà đầu tư trong, ngoài nước: Đội ngũ tư vấn cổ phần hóa, các định chế tài chính và quỹ đầu tư có cơ sở phân tích tiềm năng tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, đánh giá cơ hội mua cổ phần lần đầu với giới hạn tỷ lệ sở hữu lên tới 30% dành cho nhà đầu tư nước ngoài.

Câu hỏi thường gặp

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có đồng nghĩa với việc tư nhân hóa nền kinh tế không? Cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa. Đây là hình thức đa dạng hóa sở hữu và xã hội hóa tư liệu sản xuất nhằm tách bạch quyền sở hữu của Nhà nước với quyền tài sản pháp nhân của doanh nghiệp. Trong thực tế, việc bán cổ phần ưu đãi cho công nhân biến họ thành người làm chủ thực chất, tạo ra hình thức sở hữu tập thể hỗn hợp phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác về xã hội hóa sản xuất.

Tiêu chuẩn cốt lõi nào đánh giá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường? Vai trò chủ đạo không đo lường đơn thuần bằng số lượng hay quy mô doanh nghiệp mà dựa trên 3 tiêu chí: năng lực nắm giữ các ngành yết hầu (năng lượng, viễn thông, khoáng sản), khả năng điều tiết vĩ mô ổn định thị trường, và hiệu quả dẫn dắt, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại. Việc 17 Tổng công ty 91 nắm giữ 22,5% tổng vốn và bảo đảm các cân đối lớn quốc gia là minh chứng rõ nét.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1996 - 1999 là gì? Tỷ suất sinh lời giảm từ 11,2% xuống 9,2% chủ yếu do máy móc thiết bị lạc hậu từ 10 đến 30 năm, mức hao mòn hữu hình tới 30% - 50%, khiến giá thành sản phẩm cao hơn 20% - 40% so với hàng nhập khẩu. Thêm vào đó, gánh nặng nợ tồn đọng vượt 31.200 tỷ đồng và 67% cán bộ quản lý thiếu kỹ năng quản trị tài chính thị trường đã bào mòn khả năng sinh lợi.

Chính sách đối với người lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp được giải quyết ra sao? Nhà nước sử dụng nguồn kinh phí từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp và ngân sách địa phương để chi trả trợ cấp thôi việc một lần cho 72 vạn lao động. Đối với khoảng 100.000 lao động dôi dư sau cổ phần hóa, chính sách cho phép nghỉ việc hưởng nguyên lương để học nghề chuyển đổi hoặc nghỉ hưu trước tuổi, đồng thời công nhân nghèo được mua cổ phần ưu đãi theo hình thức trả chậm.

Các địa phương như Nam Định, Hà Nội đã áp dụng kinh nghiệm thành công nào để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa? Các địa phương tiên phong áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, thành lập Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp chuyên trách và phân kỳ bán cổ phần nhiều đợt. Điển hình tại Công ty Dệt kim Thắng Lợi (Nam Định), tỷ lệ cổ phần bán cho công nhân được nâng dần từ 24% lên 70%, giúp doanh nghiệp ổn định tổ chức nhanh chóng và người lao động hoàn toàn yên tâm gắn bó.

Kết luận

  • Kinh tế nhà nước khẳng định vững chắc vị thế chủ đạo trong 15 năm đổi mới, duy trì mức đóng góp ổn định từ 40% đến 46% GDP quốc gia và kiểm soát phần lớn nguồn lực vật chất huyết mạch.
  • Quá trình sắp xếp lại giúp tinh giản 55% số lượng doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả, tăng vốn bình quân từ 3,3 tỷ lên 21 tỷ đồng/doanh nghiệp và giải phóng sức sản xuất xã hội.
  • Mô hình cổ phần hóa và chuyển đổi sở hữu chứng minh tính ưu việt rõ rệt khi giúp 96,4% công ty cổ phần mới hoạt động có lãi và thúc đẩy doanh thu doanh nghiệp sau chuyển đổi tăng 42,5%.
  • Tồn tại lớn nhất nằm ở công nghệ lạc hậu, khối nợ xấu 31.218 tỷ đồng và 100.000 lao động dôi dư, đòi hỏi phải đẩy nhanh đổi mới thể chế quản lý và xóa bỏ cơ chế chủ quản hành chính.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là hệ thống hóa lý luận về phi quốc hữu hóa trong thời kỳ quá độ, cung cấp giải pháp đồng bộ về vốn, công nghệ và nhân sự để doanh nghiệp nhà nước giữ vững vai trò nòng cốt.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thiện khung pháp lý về quản lý vốn nhà nước, xử lý dứt điểm tài sản ứ đọng và nâng cao tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế trong giai đoạn 2001 - 2005. Các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia kinh tế và lãnh đạo doanh nghiệp hãy chủ động nghiên cứu, vận dụng các phát hiện thực chứng của luận văn để thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đạt hiệu quả bền vững.