Luận văn thạc sĩ vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố đà nẵng hiện nay

Luận văn về vai trò khoa học công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng. Nghiên cứu chuyên sâu, phân tích toàn diện và đề xuất giải pháp.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2014

101
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Vai trò Khoa học Công nghệ Đà Nẵng Hiện Nay

Khoa học và công nghệ (KHCN) đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng. Sự tiến bộ KHCN không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn tạo ra những ngành kinh tế mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đà Nẵng, với vị thế là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ của khu vực miền Trung, đang nỗ lực ứng dụng KHCN để đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất. Theo nghiên cứu của Trương Thị Thanh Lan (2014), KHCN đã trở thành động lực quan trọng, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bài viết này sẽ phân tích sâu sắc vai trò của KHCN đối với sự phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác tối đa tiềm năng khoa học công nghệ Đà Nẵng.

1.1. Khái niệm Khoa học và Công nghệ trong Phát triển Kinh tế

Khoa học là hệ thống tri thức được khái quát, thực nghiệm và phản ánh quy luật khách quan của thế giới. Công nghệ là ứng dụng của khoa học vào thực tiễn sản xuất, tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ là biện chứng, tác động lẫn nhau. Khoa học tạo ra tri thức mới, còn công nghệ ứng dụng tri thức đó vào thực tiễn. Theo Từ điển Tiếng Việt, Công nghệ là “tổng chưng các phương pháp công, chế làm thay trạng hình dáng nguyên hay bán thành phẩm dụng trong quá sản xuất để sinh phẩm”. Do đó, khoa họccông nghệ đóng vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất.

1.2. Lực lượng sản xuất Đà Nẵng Định nghĩa và Cấu trúc Hiện Nay

Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất. Người lao động là yếu tố quan trọng nhất, có vai trò quyết định trong quá trình sản xuất. Tư liệu sản xuất bao gồm công cụ lao động, đối tượng lao động và các yếu tố vật chất khác. Theo Trương Thị Thanh Lan (2014), lực lượng sản xuất phát triển khi có sự kết hợp hài hòa giữa người lao động và tư liệu sản xuất, đồng thời ứng dụng KHCN vào quá trình sản xuất. Phát triển lực lượng sản xuất Đà Nẵng cần chú trọng nâng cao trình độ tay nghề của người lao động và đổi mới công nghệ sản xuất.

II. Thách thức Hạn chế Ứng dụng Khoa học Công nghệ ở Đà Nẵng

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, việc ứng dụng KHCN vào phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Hạ tầng KHCN chưa đồng bộ, trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn lạc hậu. Nguồn nhân lực KHCN còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Cơ chế chính sách khuyến khích ứng dụng KHCN còn nhiều bất cập. Theo Báo cáo hoạch tổng nghành khoa học công nghệ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, cần có những giải pháp đồng bộ để tháo gỡ những khó khăn này, tạo điều kiện thuận lợi cho ứng dụng khoa học công nghệ Đà Nẵng.

2.1. Đánh giá Trình độ Công nghệ của Doanh nghiệp Đà Nẵng

Nhiều doanh nghiệp tại Đà Nẵng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp, gây ô nhiễm môi trường. Việc đổi mới công nghệ Đà Nẵng còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh của thị trường. Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng cần chủ động đầu tư vào khoa học công nghệ Đà Nẵng để nâng cấp quy trình sản xuất.

2.2. Thiếu hụt Nguồn Nhân lực Khoa học Công nghệ tại Đà Nẵng

Đà Nẵng đang thiếu hụt nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Cần có chính sách thu hút và đào tạo nguồn nhân lực khoa học công nghệ Đà Nẵng, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, đào tạo nhân lực theo nhu cầu thực tế.

III. Phương pháp Tăng Năng Suất Ứng dụng Khoa học Công Nghệ

Để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng, cần có những giải pháp đồng bộ để ứng dụng khoa học công nghệ Đà Nẵng. Cần đầu tư vào hạ tầng KHCN, nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Cần phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Cần hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích ứng dụng KHCN. Đặc biệt là cần tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. Năng suất lao động Đà Nẵng sẽ được cải thiện đáng kể.

3.1. Thúc đẩy Tự động hóa và Ứng dụng Robot trong Sản xuất

Tự động hóa Đà Nẵng và ứng dụng robot trong sản xuất giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm. Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào tự động hóa, robot, và các giải pháp công nghệ thông minh khác. Công nghệ thông tin Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong quá trình tự động hóa.

3.2. Phát triển và Ứng dụng Công nghệ Sinh học trong Nông nghiệp

Công nghệ sinh học Đà Nẵng có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, giảm thiểu sử dụng hóa chất, bảo vệ môi trường. Cần có chính sách khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp. Khoa học và công nghệ trong nông nghiệp Đà Nẵng sẽ giúp tạo ra các sản phẩm nông nghiệp sạch, an toàn.

3.3. Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Vật liệu Mới vào Sản Xuất

Sử dụng công nghệ vật liệu mới Đà Nẵng giúp tạo ra các sản phẩm có tính năng vượt trội, độ bền cao, thân thiện với môi trường. Nghiên cứu và phát triển (R&D) Đà Nẵng cần tập trung vào phát triển các vật liệu mới có tính ứng dụng cao. Công nghệ vật liệu mới có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp.

IV. Kết quả Tác động Khoa học Công nghệ đến Kinh tế Đà Nẵng

Việc ứng dụng KHCN đã mang lại những kết quả tích cực cho kinh tế Đà Nẵng. Nhiều ngành kinh tế đã có sự tăng trưởng vượt bậc nhờ ứng dụng công nghệ mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao. Tác động của khoa học công nghệ đến kinh tế Đà Nẵng ngày càng rõ rệt. Đà Nẵng đang từng bước chuyển đổi sang kinh tế tri thức Đà Nẵng, dựa trên nền tảng KHCN.

4.1. Tăng trưởng GDP và Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Doanh nghiệp

Ứng dụng KHCN đã góp phần tăng trưởng GDP của Đà Nẵng. Cạnh tranh của doanh nghiệp Đà Nẵng được nâng cao nhờ ứng dụng công nghệ mới, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao. Doanh nghiệp cần tiếp tục đầu tư vào KHCN để duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh.

4.2. Chuyển đổi Số và Phát triển Kinh tế Tri thức tại Đà Nẵng

Chuyển đổi số Đà Nẵng đang diễn ra mạnh mẽ, tạo ra những cơ hội mới cho phát triển kinh tế. Kinh tế tri thức Đà Nẵng đang dần hình thành, dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và các ngành công nghệ cao. Cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức.

V. Chính sách và Hướng đi cho Khoa học Công nghệ Đà Nẵng Tới

Để KHCN tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất tại Đà Nẵng, cần có những chính sách và định hướng phát triển phù hợp. Chính sách khoa học công nghệ Đà Nẵng cần tập trung vào khuyến khích nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ mới, thu hút và đào tạo nhân lực KHCN, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Đà Nẵng cần xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp Đà Nẵng vững mạnh, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp KHCN phát triển.

5.1. Vai trò của Sở Khoa học và Công nghệ trong Phát triển KHCN

Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách, quản lý hoạt động KHCN, hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu. Sở cần tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp để thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ Đà Nẵng.

5.2. Xây dựng Khu Công nghệ Cao và Phát triển Công nghiệp 4.0

Khu công nghệ cao Đà Nẵng cần được đầu tư phát triển, trở thành trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ cao. Đà Nẵng cần chủ động tiếp cận và ứng dụng các công nghệ của Công nghiệp 4.0 Đà Nẵng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

5.3. Phát triển Khoa học và Công nghệ trong Du lịch và Y tế

Khoa học và công nghệ trong du lịch Đà Nẵng cần được ứng dụng để nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo ra các sản phẩm du lịch mới, thu hút khách du lịch. Khoa học và công nghệ trong y tế Đà Nẵng cần được ứng dụng để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân.

VI. Tương lai Phát triển Bền Vững Lực lượng Sản xuất tại Đà Nẵng

Ứng dụng KHCN là yếu tố then chốt để Đà Nẵng đạt được mục tiêu phát triển bền vững Đà Nẵng. Việc ứng dụng công nghệ mới giúp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Phát triển lực lượng sản xuất cần gắn liền với bảo vệ môi trường và phát triển xã hội.

6.1. Ứng dụng Công nghệ Xanh và Năng lượng Tái tạo

Việc ứng dụng công nghệ xanh và năng lượng tái tạo giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm năng lượng, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường. Cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ Đà Nẵng liên quan đến công nghệ xanh và năng lượng tái tạo.

6.2. Phát triển Lực lượng Lao động Sáng tạo và Kỹ năng Số

Để đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cần phát triển lực lượng lao động sáng tạo và có kỹ năng số tốt. Cần đầu tư vào giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề của người lao động. Nguồn nhân lực khoa học công nghệ Đà Nẵng cần được trang bị các kỹ năng mềm và kỹ năng số để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

25/04/2025
Luận văn thạc sĩ vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở thành phố đà nẵng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 8 tiết trình bày trong 90 trang. CHUONG 1 KHOA HQC - CONG NGHE VA VAI TRO CUA NO DOI VOL SỰ PHÁT TRIEN CUA LUC LUQNG SAN XUAT 1. MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE KHOA HQC - CONG NGHE 1. Các khái niệm khoa học, công nghệ * Khái niệm khoa học “Thuật ngữ khoa học xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thức hoạt động sáng tạo đặc biệt, chiếm vị trí hết sức quan trọng trong đời hội của con người.

Có rất nhiễu quan niệm khác nhau vẻ khoa hoc. Cụ Trong từ điển triết học, Nhà xuất bản Ti bộ Mátxcova 1986 Khoa học - Lĩnh vực hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những trí thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy, và cả những yếu tô và điều kiện của việc sản xuất này”. Trong từ điển Tiếng việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà nội 1988 viết: “ Khoa học là một hệ thống trì thức tích lũy trong quá trình lich sử và được thực tiễn chứng mình, phản ánh quy luật khách quan của thể giới bên ngoài cũng nhự của hoạt động tình thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực”. Còn trong từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội 2002 viết: “4 'Khoa học là một hệ thống tri thức vẻ tự nhiên, xã hội và trr đuy được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng khái niệm phán đoán, học thuyết” Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Khoa học là một hệ thông trí thức được khái quát từ thực tiễn và được thực tiễn kiếm nghiệm, phản ánh dưới dạng lôgíc trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối liên hệ bản chất, những quả luật của tự nhiên, xã hội và bản thân con người.

Tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, chúng ta có thẻ phân tích khái niệm khoa học ở nhiều khía cạnh khác nhau. Ở mức độ khái quát, khoa học được hiểu ở các góc độ sau: Thứ nhất, khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Triết học xem khoa học là một hình thái ý thức xã hội, khoa học được quy định bởi các yếu tố của tồn tại xã hội, đồng thời nó có sự tác động mạnh mẽ trở lại đối với đời sống kinh tế - xã hội và tồn tại xã hội nói chung. sự thay đôi của khoa học sẽ dẫn tới sự thay đổi của phương thức sản xuất, mỗi thời đại được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định và chính sự phát triển của phương thức sản xuất là động lực thức đây khoa học luôn khám phá để tìm ra phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn.

Từ những mỗi quan hệ đó. ta thấy rằng mỗi phát hiện mới về quy luật, hoặc sáng tạo mới vẻ các giải pháp đều hoàn toàn có khả năng phải chap nhận sự va chạm với các định kiến xã hội, thậm chí là những sự đụng độ gay gắt, nếu như phát triển hoặc sáng tạo đó khác biệt với truyền thống tư duy, tập quán dân tộc, tín điều tôn giáo, những điều đó đã ăn sâu trong đời sống xã hội, mà học thuyết nhật tâm của Cô-péc-ních (Copemicus) và Ga-li-lê (Galilei) là một minh chứng. Ngoài mỗi quan hệ biện chứng với tổn tại xã hội, khoa học còn có mỗi quan hệ biên chứng với các hình thái ý thức xã hội khác như: chính trị, đạo đức, tôn giáo. Khoa học đóng vai trò như là tiên đề cơ sở cho việc hình thành và phát triển các hình thái ý thức xã hội khác nhau.

Trái lại, các hình thái ý thức xã hội khác lại có tác động ở những mức độ khác nhau đối với việc khám phá, truyền bá, ứng dụng các tri thức khoa học. Từ đó, chúng có tác động đến khoa học nói chung. Thứ hai, khoa học là một hoạt động xã hội đặc thù. “Trước đây, khi xã hội còn kém phát triển, hoạt động khoa học mang tính 10 đơn lẻ, cá biệt của cá nhân hay một nhóm người.

Ngày nay khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao độ. Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc bi L hướng vào việc tim m những điều chưa biết, là một loại lao động gian khổ, có nhiều rủi ro. Hiện nay đội ngũ những người hoạt động khoa học ngày càng tăng cá về: số lượng và chất lượng. Khoa học đã thực sự trở thành một lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó sáng tạo ra các tri thức mới về quy luật của thế giới, về các giải pháp, phương hướng tác động có hiệu quả vào thế giới khách quan, sáng tạo ra các sự vật mới, phục vụ những mục tiêu tồn tại và phát triển bản thân con người và xã hội loài người.

Thứ ba, khoa học là một hệ thông tr thức của nhân loại về tự nhiên, xã hội và con người. Ngay từ khi xuất hiện, con người phải lao động để duy trì sự sống, đồng thời cùng với lao động con người có nhu cầu nhận thức thế giới xung quanh, sự hiểu biết của con người về thể giới khách quan và về chính bản thân mình ngày càng trở nên phong phú, trở thành một hệ thống trỉ thức về mọi lĩnh vực. của đời sống xã hội. Khoa học, trước hết có tư cách là hình thức hoạt động tỉnh thần của con người hướng đến việc sản xuất trí thức về tự nhiên, xã hội và về chính bản thân nhận thức.

Nhưng mục tiêu trực. ếp của khoa học là đạt tới chân lý, khám phá các qui luật khách quan nhờ khái quát các sự kiện hiện thực trong mối liên hệ qua lại giữa chúng, đoán nhận xu hướng phát triển của hiện thực trên những khám phá về các qui luật đó, chính vì vậy nó còn là hệ thống tri thức vẻ tự nhiên, xã hội và tư duy được đem lại bởi hoạt động nhận thức của con người. Giống như các hình thức khác của nhận thức, khoa học luôn là một dạng hoạt động xã hội - lịch sử chứ không đơn giản là tri thức thuần túy. Phản ánh thế.

giới mang tính vật chất và phát triển, khoa học hình thành một hệ thống trí thức: 1I liên hệ hữu cơ với nhau và luôn phát triển về các qui luật của nó. Vậy, theo quan điểm hiện nay, khoa học vừa là một loại hình hoạt động. tỉnh thần sáng tạo vừa là kết quả của hoạt động này. Với tính cách là hoạt động tỉnh thần, khoa học là quá trình con người hướng vào việc sản xuất ra tri thức vẻ tự nhiên, xã hội và tư duy.

Với tính cách kết quả của hoạt động tỉnh thần, khoa học là tổng thể tri thức dưới dạng các khái niệm kết thành hệ thống có tính toàn vẹn trên cơ sở những nguyên tắc xác định. Tập hợp những trí thức có thông tin rời rạc, hỗn loạn mà chưa được tô chức ở mức độ nhất định và do đó không có tính hệ thống, thì chưa phải là khoa học. Mỗi một bộ môn khoa học là sự tổn tại một thé thống nhất các thành tố: chủ thể khoa học tức nhà khoa học là thành tổ chủ yếu dưới các cấp độ như cá nhân, nhóm hay cộng đồng; khách thể khoa học tức đổi tượng là cái mà nhà khoa học nghiên cứu nhằm vạch ra tính chất, cấu trúc, xu hướng của nó, hệ thống phương pháp và thủ thuật chủ yếu, do đối tượng qui định. Bên cạnh đó còn cần phải có ngôn ngữ khoa học tức ngôn ngữ chuyên môn hóa như: ký hiệu, biểu trưng, phương trình, công thức.: là phương tiện ghi nhận.

biểu đạt, giữ gìn trí thức tích lũy được và truyễn bá. Sự tổn tại của một khoa học được thé hiện ở các phương diện: một quá trình truy nhận trỉ thức (nhất thiết có tri thức mới) mà kết quả của nó là những trỉ thức phải hợp nhất thành hệ thông hữu cơ đang phát triển; một thiết chế xã hội cùng toàn bộ cơ sở hạ tằng. ủa nó như tô chức khoa học, nguồn tài chính, thiết bị và phương tiện nghiên cứu; một lĩnh vực hoạt động sản xuất tri thức của con người ngày càng thâm nhập và trở thành yếu tố quan trọng của văn hóa. Đề nhận biết một khoa học cần dựa vào năm tiêu chí chủ yếu: ;hứ nhất, có đối tượng nghiên cứu xác định là những thuộc tính, yếu tố, quan hệ bản chất của khách thể mà khoa học đó quan tâm phát hiện và cải biến; thir hai, c6 một lý thuyết là hệ thống trỉ thức dưới dạng phạm trù, khái niệm qui luật gồm 12 bộ phận riêng và bộ phận tiếp nhận từ khoa học khác; z ba, có một phương pháp luận là lý thuyết về phương pháp và hệ thống phương pháp chỉ đạo việc lựa chọn, xây dựng, sử dụng phương pháp gồm phương pháp luận riêng có và phương pháp luận tiếp nhận từ khoa học khác; zh ø, có mục đích ứng dụng trực tiếp hoặc gián tiếp, xác định hoặc chưa xác định; rhứ năm, có một lịch sử nghiên cứu - một khoa học có thể bắt đầu lịch sử nghiên cứu tử một khoa học.

khác và khi hoàn thiện được lý thuyết cùng phương pháp luận. thì chính thức xuất hiện và đi vào phát triển song không phải khoa học nào cũng như thể. Với tính cách là lĩnh vực hoạt động tỉnh thần sản xuất ra hệ thống các tri thức, khoa học có thể phân chia thành những nhóm, ngành khác nhau theo tiêu chí nhất định. Xét về đối tượng và phương pháp truy nhận trì thức.

có thê chia khoa học thành các khoa học về tự nhiên, các khoa học về xã hội, các khoa học về nhận thức và tư duy, các khoa học kỹ thuật và công nghệ. Trong đó, đặc biệt toán học, triết học thuộc về nhóm riêng và thâm nhập vào hẳu hết các nhóm khác. Bên cạnh đó còn có các khoa học về nông nghiệp. Đến lượt, mỗi nhóm có thể phân chia thành những nhóm nhỏ như: các khoa học tự nhiên có cơ học, vật lý hóa học, sinh học v.

các khoa học về nhận thức và tư duy có nhận thức luận, lôgíc học; các khoa học xã hội có kinh tế học, luật học, chính trị học, xã hội học xã hội học sử học v. các khoa học kỹ thuật và công nghệ có chế tạo máy, kỹ thuật điện, kỹ thuật di truyén wv. Xét về khoảng cách với thực xã hội, có thể chia thành những khoa học lý thuyết nhằm vạch ra những qui luật và các nguyên tắc cơ bản của hiện thực mà không định hướng trực tiếp vào thực tiễn xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ