CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Khái quát về thị trường lao động và nguồn lao động Lê Thúy Hằng (2011), Di động việc làm trong quá trình chuyển đổi việc ở Việt Nam: Nhìn từ những thay đổi trong chính sách kinh tế và hội nhập quốc tế, Tạp chí Xã hội học và Nguyễn Thị Lan Hương (2014), Những con số về thất nghiệp và việc làm ở Việt Nam: Hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Xã hội học. Bài viết thể hiện xu hướng chuyển dịch lao động, trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, dưới tác động của chính sách, đã có sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Cụ thể, các địa phương đẩy mạnh chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, đồng thời duy trì và phát triển các ngành thủ công truyền thống, tham gia vào các ngành công nghiệp, thúc đẩy phát triển các mô hình du lịch kết hợp với các ngành dịch vụ liên quan. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2013), Xu hướng chuyển đổi cấu trúc lao động - nghề nghiệp ở nông thôn nước ta và những hàm ý chính sách, Tạp chí Xã hội học.
Trong nghiên cứu của mình, Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã làm rõ được các yếu tố tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề. Theo đó, bên cạnh chính sách phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; sự tác động của quá trình đô thị hóa; sự chuyển đổi nghề nghiệp do thiếu đất đai canh tác thì yếu tố mạng lưới xã hội cũng được đề cập và quan tâm. Nguyễn Thị Lan Hương (2014), Những con số về thất nghiệp và việc làm ở Việt Nam: Hiện trạng và triển vọng, Tạp chí Xã hội học và Nguyễn Phan Lâm và Tô Thị Hồng (2016), Đánh giá của thanh niên về khả năng thích ứng trong hội nhập nghề nghiệp hiện nay, Tạp chí Xã hội học. Đặc điểm chung của phần lớn lao động Việt Nam hiện nay là sự hạn chế về trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao.
Một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tham gia vào thị trường hàng năm chưa thông qua đào tạo hoặc chỉ được đào tạo cơ bản một công đoạn, quy trình nhất định. Với đặc trưng về nguồn nhân lực ở nông thôn: cung có sẵn, cầu theo thời vụ, ở nông thôn xuất hiện tình trạng thiếu việc làm, kết hợp với 10 mục đích kinh tế góp phần thúc đẩy quá trình lao động di cư từ nông thôn đến các khu vực thành thị. Điều này được đúc kết từ kết quả nghiên cứu của Trương Xuân Trường. Từ các phát hiện của Ngô Thị Kim Dung (2011), Trần Nguyệt Minh Thu (2013), Nguyễn Xuân Mai và Trần Nguyệt Minh Thu (2014), Nguyễn Phan Lâm và Tô Thị Hồng (2016), có thể nhận thấy nhóm lao động di cư từ nông thôn sang thành thị nhằm cải thiện thu nhập.
Phần lớn tham gia vào các công việc giản đơn, lao động chân tay, lao động tại các doanh nghiệp tư nhân với mức thu nhập trung bình thấp do hạn chế về trình độ chuyên môn. Đây là lực lượng chính góp phần gia tăng khu vực kinh tế phi chính thức tại các thành thị. Việc tham gia vào thành phần kinh tế phi chính thức hoặc làm việc cho các doanh nghiệp tư nhân sẽ dẫn đến tình trạng người lao động thiếu sự bảo hộ lao động và các yếu đố đảm bảo an sinh trong lao động. Xét về yếu tố giới trong lao động di cư, theo kết quả nghiên cứu năm 2013 của Trần Nguyệt Minh Thu, nam thanh niên có tỷ lệ di cư sang thành thị cao, trong khi trường hợp tương tự diễn ra ở nhóm phụ nữ trung niên.
Cũng theo nghiên cứu, nữ giới thường hướng tới ổn định ở một công việc cố định trong khi nam giới sau một khoảng thời gian tích lũy kinh nghiệm và vốn tài chính sẽ chuyển đổi công việc hoặc tự kinh doanh. Mức lương trung bình của nữ giới thấp hơn của nam giới, tuy nhiên nữa giới lại tiết kiệm trong chi tiêu và gửi tiền về quê với số lượng và tần số cao hơn nam giới. Đặng Nguyên Anh (2014), Đổi mới chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm để phát triển bền vững, Tạp chí Xã hội học. Từ góc độ quản lý Nhà nước và chính sách, do chưa có định hướng kinh tế dài hạn nên chuyển dịch cơ cấu diễn ra với tốc độ chậm, các ngành nông nghiệp và kinh tế phi chính thức có năng suất và hiệu quả kinh tế chưa cao.
Bên cạnh đó, việc mở rộng nhiều ngành nghề nhưng chưa đào sâu về mặt chất lượng cũng tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và vấn đề việc làm. Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa đạt hiệu quả mong đợi khi chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các kênh truyền thông, trung tâm giới thiệu việc làm, nhà tuyển dụng và người lao động. Các chính sách hiện nay chỉ dừng lại ở mức độ hỗ trợ mà chưa đẩy mạnh phát triển các ngành nghề, tạo việc làm mới. Một điểm đáng quan tâm hơn là việc phân phối và đào tạo nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu của xã hội.
Một phát hiện thú vị từ nghiên cứu của Đặng 11 Nguyên Anh: Chỉ số GDP của quốc gia cao không dẫn đến sự chắc chắn rằng cuộc sống người dân đã hạnh phúc hơn. Đồng thời, tỷ lệ thấy nghiệp hiện nay có xu hướng tăng, một phần do cấp độ quản lý đã chú trọng vào tăng trưởng GDP mà không tập trung vào vấn đề tạo việc làm phù hợp cho lao động. Trần Thanh Ái (2013), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: các nguyên lý, thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ. Chất lượng lao động thể hiện thông qua đào tạo.
So sánh đặc điểm giữa hình thức đào tạo niên chế và đào tạo tín chỉ từ các nghiên cứu, có thể nhận thấy hệ thống đào tạo tín chỉ lấy đối tượng người học làm trung tâm, với thiết kế chương trình một cách linh hoạt, tăng tính chủ động của học viên, sinh viên, đồng thời có sự giao lưu, hỗ trợ kiến thức từ các ngành, các lĩnh vực khác nhau, cung cấp kiến thức liên ngành, có tính tích cực, toàn diện, và linh hoạt hơn so với hình thức đào tạo theo niên chế trước đây. Nghiên cứu cũng nêu lên những vấn đề bất cập, những yêu cầu của hệ thống đào tạo tín chỉ. Trần Thanh Ái đề cập hệ thống đào tạo tín chỉ mang lại sự chủ động và linh hoạt cho học viên, sinh viên khi chính người học tham gia quyết định tiến độ chương trình giáo dục, nội dung giáo dục cũng như cách tiếp cận, trình bày nội dung bài học… Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả tốt, đòi hỏi tính chủ động và kỹ năng của người học. Khi mà tư tưởng truyền thống về hình thức giáo dục một chiều, tiếp thu thụ động, học vẹt, học tủ còn tồn tại, ý thức tự giác, chủ động của người học chưa được nâng cao thì vẫn còn là một khó khăn, thách thức để đạt đúng hiệu quả vốn có của hệ thống đào tạo này.
Bên cạnh đó, sự thiếu hụt giảng viên chuyên ngành, chất lượng cơ sở vật chất còn chưa được đầu tư đúng mực, nội dung chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, chưa phù hợp với hình thức giáo dục mới, đào tạo theo hình thức tín chỉ nhưng không đủ tín chỉ cho sinh viên lựa chọn… cũng khiến người học khó lòng xây dựng, phát huy tính chủ động trong học tập cũng như trong rèn luyện kỹ năng. Từ nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Hà (2010), nhóm có trình độ trí thức ngày càng gia tăng trong xã hội. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo. Vẫn tồn tại một bộ phận sinh viên tốt nghiệp không tìm được công việc ổn định, không đáp ứng được yêu cầu của tầng lớp trí thức.
Một vấn đề nữa tồn tại ở khía cạnh phân bố nguồn nhân lực có tri thức cao không đồng đều. Hầu hết chất xám trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của nước ta đều tập trung tại 12 hai siêu đô thị là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, dẫn đến vấn đề trong phân bố nguồn lực đào tạo tại các trường, các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cả nước. Theo Nguyễn Hoàng Tứ, đào tạo theo hình thức tích lũy tín chỉ cần có thời gian chuyển đổi hoàn tất từ hình thức cũ, đồng thời cần sự gắn kết, hợp tác giữa Nhà nước, Nhà trường, lực lượng đào tạo và học viên, từ đó mới có thể phát huy hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng giáo dục của đất nước, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội (2008).
Tự học là một vấn đề phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học về phương pháp học tập và kỹ năng trong sinh viên. Tự học cũng là một biểu hiện của tính chủ động học tập. Phần đông sinh viên đều nhận thức được tầm quan trọng của ý thức tự giác, chủ động trong học tập. Việc tự học là vô cùng quan trọng đối với sinh viên, đặc biệt với hình thức giáo dục tín chỉ hiện nay, khi mà vai trò của sinh viên được nâng cao và chủ động (Hồ Thị Hải Yến, 2011; Nguyễn Thanh Thủy, 2016; Hoàng Thị Bích Hạnh, Nguyễn Thanh Tùng, Phạm Ngọc Tuyền & Hoàng Thanh Tuyền, 2017).
Có một phát hiện thú vị khi đề cập đến vai trò của giảng viên trong việc định hướng, hỗ trợ, tạo điều kiện, nền tảng giúp sinh viên phát huy tính chủ động, tinh thần tự học. Ngoài ra, các phương thức học tập, các kỹ năng khác như thảo luận nhóm, một cách tổng quát, đều nhận được sự quan tâm của bộ phận sinh viên Đại học, Cao đẳng. Tuy nhiên, làm sao để phát huy những phương pháp, kỹ năng một cách hiệu quả, lan tỏa tinh thần chủ động tích lũy “vốn” vẫn còn là khía cạnh cần xem xét cụ thể hơn (Phạm Thị Lan Hương & Trần Triệu Khải, 2010; Đoạn Thị Thanh Minh & Hoàng Thị Quỳnh Nga, 2012; Võ Bình Nguyên, 2014).2 Nghiên cứu về việc làm và kênh thông tin việc làm của sinh viên giai đoạn hiện nay Việc làm luôn là vấn đề được sinh viên quan tâm. Thực trạng hiện nay cho thấy tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp có việc làm ngay là khá thấp.
Hầu hết các công việc chưa thật sự đúng với chuyên ngành mà sinh viên được đào tạo (Đoàn Thị Thùy Dung, 2015; Thân Trung Dũng, 2015). Sinh viên tốt nghiệp do thiếu định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ trước, dẫn đến thiếu hụt kỹ năng cần thiết.