mở đầu cho thời kỳ phát triển hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Năm 1961, Nhà nước công bố điều lệ hợp tác xã thủ công nghiệp Việt Nam làm căn cứ thống nhất để củng cố tổ chức và cải tiến quản lý hợp tác xã. Hệ thống quản lý hợp tác xã cũng đuợc kiện toàn, liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp được thành lập tại các tỉnh, thành phố. Ngày 06/06/1961 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất các hợp tác xã thủ công nghiệp đã thông qua Điều lệ hợp tác xã thủ công nghiệp và bầu ra ban chủ nhiệm Trung ương. Sau năm 1972, tình hình kinh tế của các hợp tác xã nhìn chung còn rất nhiều khó khăn, do thiếu hẳn về con người và vật chất, công tác quản lý hợp tác xã không được tăng cường, việc quản lý vốn, tài sản lỏng lẻo, tình trạng quản lý sử dụng lao động không khoa học theo kiểu làm chung và phân phối theo ngày công, gắn với hiện tượng “rong công, phóng điểm” làm cho giá trịngày công rất thấp, thậm chí có hợp tác xã xảy ra tình trạng giá trị ngày công “âm” thực sự đã làm giảm động lực của xã viên.
* Giai đoạn từ năm 1976 đến trước khi luật hợp tác xã năm 1996: Giai đoạn từ 1976 – 1986 Ở miền Bắc, tiến hành cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, cải tiến quản lý hợp tác xã theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết 61/CP ngày 05/04/1976 của Chính phủ. Sau 02 năm thực hiện Nghị quyết 61/CP, có 3.927 hợp tác xã đã tiến hành tổ chức lại sản xuất, trong đó có 3.573 hợp tác xã quy mô toàn xã. 15 Ở miền Nam, sau giải phóng, Đảng chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất công bằng cho người dân, sau đó Ban Chấp hành Trung ương có Chỉ thị 15-CT/TW ngày 04/08/1977 về việc thí điểm tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam, hầu hết nông dân được đưa vào hợp tác xã và các tập đoàn sản xuất theo đúng cách làm, quản lý giống hệt các hợp tác xã ở miền Bắc. Kết quả là phong trào hợp tác xã không thành công như mong muốn những nguyên tác cơ bản trong xây dựng hợp tác xã đã không được tôn trọng, cộng với tình hình thiên tai liên tục trong thời kỳ này đã làm cho các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất vốn đã yếu ớt càng khó khăn gấp bội.
Tình hình đó đã dẫn tới chỗ nhiều hợp tác xã và đặc biệt là tập đoàn sản xuất đã bị tan rã hàng loạt hoặc không hoạt động. Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương 6 (khoá IV) tháng 9/1979 đã ra Nghị quyết về những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện cho sản xuất “bung ra” một số hợp tác xã thực hiện việc khoán sản phẩm đến hộ, cho phép xã viên bỏ vốn, sức lao động đầu tư thâm canh để được hưởng phần sản phẩm vượt khoán và hiện tượng “khoán chui” ngày càng mở rộng. Để chấn chỉnh tình hình, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra thông báo số 22 cho tổ chức tổng kết thực tiễn đến ngày 13/01/1981 chính thức ra Chỉ thị 100-CT/TW khẳng định chủ trương áp dụng hình thức khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, cũng có tình trạng tương tự như trong nông nghiệp đó là sự gò ép đối với các thợ thủ công nghiệp, cho nênđến năm 1977 toàn miền Nam có 221 hợp tác xã với 31.700 xã viên, chiếm gần 80% lao động thủ công nghiệp toàn miền các hợp tác xã cũng nhanh chóng được chuyển lên thành hợp tác xã bậc cao, đã dẫn đến tình trạng một số người đứng ra lấy danh nghĩa lập hợp tác xã, tổ hợp tác nhưng họ bao vốn, bao cổ phần và nắm quyền điều hành, xã viên thực chất là thợ làm thuê.
16 Trong thương nghiệp và dịch vụ, ngày 05/06/1976 Trung ương Đảng ra chỉ thị số 12/CT về tổ chức hợp tác xã mua bán ở nông thôn miền Nam và phát triển hợp tác xã tiêu thụ ở thành thị. Do vậy, chỉ 03 năm sau giải phóng, toàn miền Nam đã có hơn 50% số xã, phường có hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tiêu thụ Thực tiễn hoạt động trong khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong suốt những năm 70 của thế kỷ XX đã bộc lộ một số khó khăn, yếu kém như: quá chú trọng tập thể hoá mà không coi trọng đúng các quan hệ lợi ích giữa tập thể và hộ gia đình cũng như bản thân xã viên; phương thức quản lý kém hiệu quả, xã viên không còn gắn bó với hợp tác xã, ruộng đất, tài sản không được sử dụng một cách có hiệu quả quy mô hợp tác xã càng được mở rộng thì tình trạng lãng phí và vô chủ ngày càng trầm trọng các chính sách của Nhà nước chậm được sửa đổi cho phù hợp, tổ chức và quản lý hợp tác xã mang nặng tính chất hành chính, làm sai lệch bản chất kinh tế đích thực của nó; thậm chí hợp tác xã còn bị coi như là một tổ chức xã hội, động lực xã viên và người lao động giảm sút nghiêm trọng. Nguyên nhân cơ bản những hạn chế, yếu kém về cơ chế, chính sách là do chúng ta nhận thức đơn giản về chủ nghĩa xã hội, nôn nóng đi lên chủ nghĩa xã hội mà không nhận thức và coi rọng đầy đủ yêu cầu và tác động của các quy luật kinh tế khách quan, coi nhẹ, thậm chí phủ nhận vai trò và sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác trong thời kỳ quá độ; trong xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã, các nguyên tắc cơ bản xây dựng hợp tác xã đã bị vi phạm. * Giai đoạn từ 1986 – 1996 Đại hội VI Đảng ta đã xác định rõ đường lối đổi mới nền kinh tế, trong đó có đổi mới nhận thức về quan niệm và vị trí của các thành phần kinh tế, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, từ đó kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã đã được nhìn nhận dưới tư duy 17 mới.
Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ và hợp tác xã bắt đầu được nhìn nhận dưới cấu trúc mới, bao gồm cả kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình xã viên. Trong nông nghiệp, Bộ Chính trị (khoá VI) đã ra Nghị quyết 10- NQ/TW về đổi mới kinh tế nông nghiệp với nội dung chủ yếu là tổ chức lại sản xuất trong các hợp tác xã, xác định rõ vai trò của kinh tế hộ gia đình xã viên trong phát triển kinh tế tập thể. Và từ đó, kinh tế hộ gia đình được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, tồn tại lâu dài, là bộ phận cấu thành kinh tế tập thể. Trong lĩnh vực tín dụng, nếu như năm 1985 cả nước có 7.160 cơ sở hợp tác xã tín dụng nông thôn thì đến năm 1990, về cơ bản bị xoá bỏ hoặc tan rã; đến năm 1992 chỉ còn 200 hợp tác xã tín dụng hoạt động ở mức thấp; tháng 12/1993, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 190/TTg cho làm thí điểm xây dựng hợp tác xã tín dụng kiểu mới (sau này gọi là Quỹ tín dụng nhân dân) và thành lập các Quỹ tín dụng khu vực.
Đến tháng 5/1995, Quỹ tín dụng Trung ương được thành lập. Trong lĩnh vực thương mại, ngày 23/12/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 194/HĐBT kèm theo quy định về tổ chức và hoạt động của hợp tác xã mua bán. Nhưng sau khi Nhà nước thực hiện chính sáchmột giá, tự do lưu thông hàng hoá và một số thay đổi trong chính sách khác đã làm cho hợp tác xã mua bán gặp nhiều khó khăn, một số bị giải thể do thua lỗ hoặc chuyển đổi sang hình thức khác. Đến năm 1996, cả nước có 326 hợp tác xã mua bán cơ sở, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Thanh Hoá,… Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, việc mất thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ đã làm cho các hợp tác xã thủ công nghiệp hết sức khó khăn.
Đi liền đó việc giải thể hệ thống Liên hiệp hợp tác xã thủ công nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 16-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VI) làm cho các hợp tác 18 xã thủ công nghiệp vốn hoạt động như một xí nghiệp quốc doanh, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp chưa thích nghi kịp với cơ chế thị trường đã thật sự gặp khó khăn. Đến năm 1991, cả nước chỉ còn 2.700 hợp tác xã thủ công nghiệp với hơn 337.000 xã viên; một số tỉnh không còn hợp tác xã thủ công nghiệp. Giai đoạn này có thể coi là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển hợp tác xã ở nước ta; số lượng hợp tác xã bị giảm mạnh, từ 73.490 hợp tác xã năm 1987 đến năm 1996 giảm xuống còn 18. Mặt khác, sự giúp đỡ của Nhà nước cho kinh tế hợp tác, hợp tác xã cũng thiếu kịp thời và không theo kịp tình hình phát triển, nên tình hình phát triển loại hình kinh tế hợp tác xã thời kỳ này là hết sức khó khăn * Giai đoạn khi có Luật Hợp tác xã năm 1996 đến trước khi có Luật Hợp tác xã năm 2003: Luật Hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị trường.
Để chỉ đạo quá trình thực thi Luật Hợp tác xã, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 68-CT/TW, Chính phủ đã ban hành một sốNghị định thi hành Luật Hợp tác xã: Nghị định 02/CP quy định về chức năng quản lý Nhà nước đối với hợp tác xã, Nghị định 15/CP quy định về các chính sách ưu tiên đối với hợp tác xã, Nghị định 16/CP quy định về chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật. Đây là lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh về hợp tác xã, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đến thời điểm năm 2000, có tổng số 11.791 hợp tác xã đang hoạt động theo Luật. Ngày 18/3/2003 Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 5 khóa IX ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể.
Sau hơn một năm triển khai đã có hơn 100.