Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Chương 3. Vai trò của HTX trong việc giảm chi phí trung gian của chuỗi giá trị lúa gạo ở huyện Tam Nông Chương 4.
Kết luận và khuyến nghị 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lý thuyết về chuỗi giá trị Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng. Cách tiếp cận chuỗi giá trị theo phương phương pháp “filière” - Phân tích ngành hàng - (Commodity Chain Analysis) có các đặc điểm chính là: 1) Tập trung vào những vấn đề của các mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi. 2) Tóm tắt trong các biểu đồ dòng chảy của hàng hóa vật chất. 3) Sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm.1 Sơ đồ hóa chuỗi giá trị Sơ đồ Hoạt động Tác nhân tham gia Cung cấp: thiết bị, Nhà cung cấp đầu vào Đầu vào dịch vụ… cụ thể Trồng, chăm sóc, Sản xuất Nông dân (sản xuất) thu hoạch, sơ chế Người thu gom/lái buôn Thu gom Thu mua, bảo quản (thu gom nhỏ, thu lớn) Phân loại, chế Người đóng gói, chế Chế biến biến, đóng gói biến, bảo quản Vận chuyển, phân Thương mại Thương nhân phối, bán hàng Tiêu thụ cuối cùng Sử dụng sản phẩm Người tiêu thụ Nguồn: Trần Tiến Khai (2011-2013) 8 Chuỗi giá trị ám chỉ đến một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng.2 Chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL và các vấn đề liên kết Chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL gồm các khâu: đầu vào (giống, phân bón, thuốc trừ sâu, rầy…), khâu sản xuất (nông dân, câu lạc bộ nông dân …), khâu thu gom (thương lái/hàng xáo), khâu chế biến (nhà máy xay xát, lau bóng và công ty), khâu thương mại (công ty, bán sĩ/lẻ) và tiêu dùng (nôi địa và xuất khẩu).
Ngoài ra, các thể chế hỗ trợ chuỗi giá trị gồm: viện, trường, khuyến nông, hiệp hội, ngân hàng, chính quyền các cấp… Tuy người nông dân có giá trị gia tăng tương đối lớn trong chuỗi nhưng với số lượng lúa của mỗi hộ nông dân không nhiều, thời gian sản xuất lại kéo dài hơn 3 tháng, trong khi chu kỳ kinh doanh của thương lái và doanh nghiệp cung ứng gạo thành phẩm ngắn hơn nhiều so với chu kỳ sản xuất của nông dân, lượng lúa gạo mà họ mua bán lớn hơn rất nhiều so với sản lượng lúa gạo mỗi hộ nông dân làm ra. Do đó, trong mỗi chu kỳ kinh doanh, mức lợi nhuận của những thành phần này lớn hơn nhiều so với lợi nhuận của nông dân. Trong chuỗi này, nông dân và doanh nghiệp là hai đối tượng có giá trị gia gia tăng cao nhất, tuy nhiên cả hai đều có những thuận lợi và khó khăn riêng. Nông dân sản xuất lúa có lợi thế về kinh nghiệm và kỹ thuật canh tác, được hỗ trợ tốt về thủy lợi nội đồng, lựa chọn đầu vào dễ dàng, được vay vốn, cơ giới hóa, tiêu thụ sản phẩm thương lái.
nhưng lại gặp khó khăn dịch bệnh trong sản xuất, chi phí đầu vào luôn tăng cao và đặc biệt đầu ra sản phẩm không ổn định. Những năm gần đây Chính phủ thường quy định giá sàn thu mua lúa để nông dân có mức lợi nhuận ổn định, tuy nhiên phần lớn việc thu mua này lại thông qua hệ thống thương lái. Có đến 91,3% lúa hàng hóa phải thông qua khâu thu gom của thương lái, chỉ khoảng 4,2% lúa hàng hóa được nông dân trong vùng ký hợp đồng thu mua trực tiếp với doanh nghiệp và 2,7% lượng lúa hàng hóa đến với nhà máy xay xát,5 điều này đã làm cho giá trị gia tăng của người dân trong chuỗi giảm xuống (Hình 2. 4 Trần Tiến Khai (2011-2013).
5 Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011, tr.2 Chuỗi giá trị lúa gạo hàng hóa ở ĐBSCL Nguồn: Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2011) Điểm yếu nhất trong giá trị lúa gạo ở ĐBSCL là những người trồng lúa, đó là tập hợp rời rạc hàng triệu hộ sản xuất trên mảnh ruộng của mình. Vùng ĐBSCL có gần 2 triệu hộ sản xuất lúa, với sản lượng chiếm ½ sản lượng lúa của cả nước nhưng lại là một tập hợp rời rạc. Do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mưa bão, lũ lụt, thiếu hệ thống bảo hiểm rủi ro, giao thông đi lại khó khăn, thiếu vốn, thiếu tài sản, trình độ học vấn thấp và thiếu khả năng tiếp cận tín dụng, là người chịu tác động mạnh nhất khi yếu tố đầu vào tăng giá, khi giá lúa tăng họ không phải là người hưởng lợi trọn vẹn, khi giá lúa giảm thì thiệt hại của họ rất lớn. Chính những điều này nên nông dân trở thành nhóm sản xuất dễ bị tổn thương nhất trong chuỗi giá trị lúa gạo.
Thương lái trong ngành lúa gạo ở ĐBSCL đã xuất hiện từ rất sớm do đặc điểm mạng lưới sông rạch chằng chịt và giao thông chủ yếu dựa vào mạng sông rạch này. Kết quả của 20 năm liên tục xuất khẩu lúa gạo, chứng tỏ đây là một chuỗi khá bền vững và thương lái đã là một thành phần đóng góp trong đó. Do hoạt động này, người nông dân ngày càng tách rời với các nhà xuất khẩu, các nhà xuất khẩu thì cũng chẳng có mối quan hệ gì với nông dân. Thương lái đã trở thành lực lượng trung gian, nắm được thông tin và mối quan hệ ở cả 10 hai đầu nên đã trở thành lực lượng không thể thiếu trong tổ chức vận hành như của thị trường lúa gạo ở Việt Nam hiện nay.6 Đối với doanh nghiệp có lợi thế về kinh nghiệm kinh doanh, có hậu cần tương đối tốt, được hỗ trợ của Chính phủ và Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA); được ưu đãi vốn vay.
Song doanh nghiệp không kiểm soát được chất lượng đầu vào do thu mua lúa gạo phải thông qua hệ thống thương lái nên chất lượng không đồng đều, dễ bị trộn lẫn nhiều giống khác nhau, thiếu vốn sản xuất, thiếu công nghệ sấy, thiếu kho dự trữ, luôn đối mặt với giá cả không ổn định, thiếu vốn, bị cạnh tranh cao và thường bị động trong xuất khẩu. Vì vậy, việc tăng cường phát triển liên kết dọc giữa nông dân và doanh nghiệp là hết sức quan trọng để tăng lợi nhuận, tăng chất lượng và giảm chi phí trung gian.3 Sự h nh thành, hoạt động và phát triển của HTX trên thế giới Liên minh HTX quốc tế (ICA) định nghĩa HTX là một tổ chức tự chủ của những người tự nguyện liên kết lại với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, văn hoá, xã hội thông qua việc thành lập một tổ chức kinh doanh sở hữu tập thể và quản lí một cách dân chủ. HTX dựa trên cơ sở các giá trị: tự lực, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, công bằng, bình đẳng và đoàn kết.7 Với lịch sử gần 200 năm phát triển, hiện nay phong trào HTX đang tiếp tục phát triển ở trên 100 quốc gia, thu hút trên 1 tỷ xã viên và người lao động tham gia HTX, góp phần cải thiện cuộc sống của gần 1/2 dân số thế giới.8 HTX là một loại hình kinh tế tập thể khá phổ biến, hoạt động trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội và hiện diện ở các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, đến nay HTX vẫn tỏ ra là mô hình hoạt động hiệu quả, phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Và quan trọng hơn nữa, thông qua hợp tác xã, các hộ nông dân, các doanh nghiệp nhỏ hợp tác với nhau, tăng sức mạnh để đối phó với khó khăn và tránh các nguy cơ thua lỗ. Với nguyên tắc kinh doanh “lợi thế nhờ quy mô, mua bán sĩ tốt hơn mua bán lẻ”, thành viên HTX cũng chính là những khách hàng quan trọng của HTX. Vì vậy, bất cứ nhu cầu nào của thành viên được phát sinh là HTX có thể thiết kế sản phẩm nhằm đáp ứng phục vụ. HTX NN chủ yếu cung cấp các dịch vụ mang tính hỗ trợ cho các thành viên của mình, thường đảm nhận các dịch vụ “đầu vào” của sản phẩm nông nghiệp như: Thủy lợi, điện, 6 Võ Hùng Dũng (2010, tr.
8 Đào Xuân Cần (2012). 11 hạt giống, cây giống, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc…; tư vấn, hỗ trợ, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới (cây, con giống mới, kỹ thuật chăm sóc, sử dụng máy móc, thiết bị hiện đại…), nhà kho, bảo quản đông lạnh, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tài chính (vay vốn, bảo hiểm)… Bên cạnh đó còn có các HTX NN cung cấp các dịch vụ khác như: làm đất, cung cấp máy nông nghiệp, dụng cụ lao động, vật tư chuồng trại, xăng dầu, chất đốt,… Với sự hỗ trợ của HTX, sản xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, HTX còn có trách nhiệm chăm lo đời sống văn hoá, tinh thần, an sinh xã hội của nông dân và thúc đẩy sự phát triển của các cộng đồng nông thôn. 12 CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA HTX TRONG VIỆC GIẢM CHI PHÍ TRUNG GIAN CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO Ở HUYỆN TAM NÔNG 3.1 Sự h nh thành và phát triển mô h nh HTX ở Việt Nam Ở Việt Nam HTX NN chính thức được hình thành và phát triển từ đầu những năm 1958,9 đến nay các HTX ở Việt Nam không ngừng đổi mới và phát triển lớn mạnh.
Hiến pháp năm 1992 khẳng định: “kinh kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh. HTX được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các HTX hoạt động có hiệu quả”. Trên cơ sở đó, ngày 20/3/1996 Luật HTX được thông qua, Luật này là cơ sở pháp lý bước đầu cho việc chuyển đổi mô hình HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới.
Ngày 26/11/2003, Luật HTX sửa đổi được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004. Luật này đã có nhiều thay đổi tích cực, tạo ra nhiều thuận lợi và thông thoáng hơn cho các HTX phát triển. Theo Luật này, HTX có được khuôn khổ pháp lý hoàn chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường và các chuẩn mực quốc tế. Tính đến tháng 8/2012 cả nước có 19.