Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê năm 2017 của Tổng cục Thống kê, khoảng 62,4% lao động nữ tại Việt Nam làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc gia đình không hưởng lương, và 41,1% đảm nhận những công việc giản đơn thiếu tính ổn định. Thực trạng này phản ánh chất lượng việc làm của phụ nữ nông thôn còn nhiều bấp bênh, đặt ra yêu cầu cấp thiết về vai trò hỗ trợ của các đoàn thể chính trị - xã hội. Tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang – địa bàn thuần nông đang trong tiến trình công nghiệp hóa, tổng diện tích đất tự nhiên là 20.763,36 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 62,27% với 12.936,24 ha. Quá trình thu hồi đất phục vụ các cụm công nghiệp và đô thị hóa khiến diện tích đất canh tác bình quân suy giảm, trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế của hàng nghìn hộ gia đình.

Toàn huyện Tân Yên ghi nhận 108.954 người trong độ tuổi lao động vào năm 2017 (chiếm 66,20% tổng dân số 164.579 người), trong đó lao động nữ chiếm tỷ lệ trên 50,7%. Tuy nhiên, khoảng 48% tổng số lao động trong độ tuổi chưa qua đào tạo nghề chuyên môn, phần lớn là phụ nữ trung niên với trình độ kỹ thuật còn hạn chế và rào cản trách nhiệm gia đình. Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng sự tham gia của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tân Yên trong công tác đào tạo nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm giai đoạn 2015 - 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giai đoạn 2018 - 2022. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả hoạt động của Hội Phụ nữ thông qua các chỉ tiêu giải quyết việc làm, gia tăng thu nhập hộ gia đình và thúc đẩy bình đẳng giới khu vực nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng dựa trên thang 8 bậc của Sherry Arnstein và các luận điểm phát triển của David Wilcox. Lý thuyết này chỉ rõ sự tham gia của Hội Phụ nữ không dừng lại ở mức độ tiếp nhận thông tin thụ động mà cần tiến tới mức độ phối hợp lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức thực hiện và giám sát xã hội. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và quan điểm kinh tế chính trị về mối quan hệ giữa chi phí tư liệu sản xuất và chi phí sức lao động, làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn tới tình trạng thiếu việc làm mang tính mùa vụ tại nông thôn.

Khung phân tích của đề tài xây dựng dựa trên 4 khái niệm cốt lõi: Lao động nông thôn, Việc làm đầy đủ (đáp ứng tiêu chuẩn thời gian từ 40 giờ mỗi tuần và mức thu nhập tối thiểu), Thiếu việc làm và Sự tham gia của Hội Phụ nữ trong giải quyết việc làm. Nghiên cứu cũng căn cứ vào hệ thống văn bản pháp lý gồm Quyết định số 1956/QĐ-TTg về Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Quyết định số 295/QĐ-TTg về hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm và cơ chế vận hành nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm (Quỹ 120).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Tân Yên giai đoạn 2015 - 2017 và các báo cáo tổng kết của Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên, tiến hành khảo sát và phỏng vấn trực tiếp 105 mẫu điều tra, bao gồm 90 lao động nữ nông thôn tại các xã tiêu biểu và 15 cán bộ quản lý, cán bộ Hội các cấp trên địa bàn huyện. Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện cho các nhóm phụ nữ mất đất nông nghiệp, phụ nữ thuộc hộ nghèo và lao động nữ trung niên.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm lượng hóa quy mô, cơ cấu và tần suất xuất hiện của các biến số việc làm; phương pháp so sánh được áp dụng để đánh giá tốc độ tăng trưởng và sự biến động chỉ tiêu kinh tế - lao động qua 3 năm (2015, 2016, 2017); kết hợp phương pháp chuyên khảo nhằm nhận diện sâu sắc các rào cản thể chế. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan khoa học, đo lường chính xác nhu cầu thực tế của người lao động và lượng hóa tác động can thiệp của tổ chức Hội trong suốt timeline nghiên cứu từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu việc làm của huyện Tân Yên đang có sự dịch chuyển nhưng tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế áp đảo. Năm 2017, toàn huyện có 67.089 lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản (chiếm 40,76% tổng lao động), ngành công nghiệp - xây dựng thu hút 30.187 người (chiếm 18,34%) và khu vực dịch vụ đạt 22.758 người (chiếm 13,83%). Đáng chú ý, tỷ lệ lao động nữ nông thôn chưa qua đào tạo nghề vẫn ở mức cao khoảng 48%, khiến khả năng tiếp cận việc làm phi nông nghiệp tại chỗ gặp nhiều trở ngại.

Thứ hai, công tác tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề của Hội Phụ nữ đạt kết quả tích cực về số lượng nhưng hạn chế về chiều sâu. Trong giai đoạn 2015 - 2017, Hội đã phối hợp tổ chức nhiều lớp dạy nghề may công nghiệp, kỹ thuật chế biến, trồng trọt cho hàng nghìn lượt hội viên. Tuy nhiên, kết quả khảo sát từ 105 mẫu điều tra cho thấy trên 60% học viên đánh giá nội dung dạy nghề còn nặng tính lý thuyết, thiếu thiết bị thực hành chuyên sâu và chưa bám sát nhu cầu tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp.

Thứ ba, việc kết nối giới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động gặp rào cản lớn về độ tuổi và kinh phí. Nhóm lao động nữ nông thôn trên 30 đến 35 tuổi hầu như bị các doanh nghiệp tại các khu công nghiệp từ chối tiếp nhận, buộc phải quay lại sản xuất nông nghiệp thời vụ với mức thu nhập thấp. Hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Chỉ thị số 04 của tỉnh dù có tiềm năng nhưng kết quả thực tế còn khiêm tốn do thiếu nguồn vốn ban đầu và các kênh thông tin ủy thác chưa phủ rộng.

Thứ tư, nghiên cứu xác định 4 nhóm yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả can thiệp của Hội gồm: Trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ Hội cơ sở; Nhận thức và tâm lý ngại thay đổi của người lao động; Mức độ phối hợp liên ngành giữa Hội Phụ nữ với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; và Nguồn kinh phí hoạt động được phân bổ còn hạn hẹp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thiếu việc làm của lao động nữ Tân Yên bắt nguồn từ áp lực kép: gánh nặng gia đình và sự suy giảm diện tích đất canh tác (bình quân chỉ còn 0,18 ha đất nông nghiệp trên một lao động nông nghiệp). So sánh với bài học kinh nghiệm tại huyện Vũ Thư (tỉnh Thái Bình) – nơi Hội Phụ nữ quản lý 23 nhóm tiết kiệm với dư nợ hơn 3,4 tỷ đồng giúp 595 hội viên thoát nghèo, hoặc huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh) – nơi Hội kết nối thành công hơn 2.500 lao động vào khu công nghiệp và quản lý nguồn vốn gần 100 tỷ đồng, có thể thấy Hội Phụ nữ huyện Tân Yên cần chủ động hơn trong việc đa dạng hóa nguồn tài chính vi mô và thiết lập mạng lưới đối tác doanh nghiệp.

Về phương thức biểu diễn dữ liệu, sự dịch chuyển cơ cấu lao động theo 3 khu vực kinh tế (nông nghiệp 40,76%, công nghiệp 18,34%, dịch vụ 13,83%) có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng theo chuỗi thời gian 2015 - 2017. Đồng thời, mức độ hài lòng của hội viên đối với 4 nhóm hoạt động hỗ trợ (tuyên truyền, tập huấn, dạy nghề, giới thiệu việc làm) nên được tổng hợp qua bảng phân phối tần số và biểu đồ mạng nhện nhằm phản ánh rõ nét khoảng cách giữa nhu cầu thực tế và năng lực đáp ứng của tổ chức Hội.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, đổi mới nội dung và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tư vấn nghề nghiệp. Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tân Yên chủ trì xây dựng các chuyên mục tư vấn việc làm trực quan, ứng dụng truyền thông cơ sở nhằm tiếp cận 100% chi hội phụ nữ thôn, xóm; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động nữ hiểu rõ các chính sách hỗ trợ học nghề và vay vốn lên trên 85% trong giai đoạn 2018 - 2022.

Hai là, nâng cấp chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của thị trường. Hội Phụ nữ huyện phối hợp cùng Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện và các doanh nghiệp trên địa bàn thiết kế chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng, tăng thời lượng thực hành lên trên 70% tổng thời lượng khóa học, phấn đấu đào tạo nghề thực chất cho ít nhất 1.200 lao động nữ mỗi năm đến năm 2022.

Ba là, mở rộng liên kết cung - cầu lao động và đẩy mạnh xuất khẩu lao động an toàn. Hội Phụ nữ các cấp phối hợp chặt chẽ với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động; liên kết với Ngân hàng Chính sách xã hội tạo điều kiện cho hơn 1.000 lượt hội viên tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Quỹ 120, thúc đẩy tăng trưởng số lượng lao động xuất khẩu có thời hạn từ 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2018 - 2022.

Bốn là, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ Hội cơ sở. Ủy ban nhân dân huyện Tân Yên phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Giang bố trí nguồn kinh phí tập huấn cho 100% cán bộ Hội cấp xã và chi hội trưởng về kỹ năng tư vấn hướng nghiệp, quản trị vốn vay vi mô và phương pháp hỗ trợ phụ nữ khởi sự kinh doanh trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Một là, Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp tại tỉnh Bắc Giang và các địa phương trên cả nước. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về phương pháp tổ chức mô hình phụ nữ giúp nhau làm kinh tế, quản lý vốn vay ủy thác tín dụng và kỹ năng liên kết đào tạo nghề hiệu quả cho hội viên.

Hai là, Cơ quan quản lý nhà nước về Lao động - Việc làm và Nông nghiệp cấp huyện, tỉnh. Báo cáo thực chứng với các dữ liệu chi tiết về 108.954 lao động là nguồn căn cứ xác đáng để các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh kế hoạch đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg và xây dựng chính sách an sinh xã hội cho lao động chuyển đổi đất nông nghiệp.

Ba là, Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp dữ liệu thống kê 3 năm với bộ công cụ khảo sát sơ cấp 105 mẫu điều tra thực tế, giúp định hình hướng tiếp cận đề tài về kinh tế giới và thị trường lao động nông thôn giai đoạn 2018 - 2022.

Bốn là, Các doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương. Doanh nghiệp có thể sử dụng dữ liệu luận văn để nắm bắt đặc điểm tâm lý, trình độ tay nghề của lực lượng 48% lao động nữ chưa qua đào tạo, từ đó xây dựng phương án tuyển dụng và tổ chức các lớp đào tạo nghề tại chỗ phù hợp cho nhóm lao động trên 30 tuổi.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao lao động nữ nông thôn trên 30 tuổi tại huyện Tân Yên gặp khó khăn khi tìm việc làm tại các khu công nghiệp? Trả lời: Hầu hết các doanh nghiệp tại khu công nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ dưới 30 tuổi để đáp ứng cường độ làm việc dây chuyền. Lao động nữ trên 30 tuổi tại Tân Yên có tỷ lệ chưa qua đào tạo chiếm khoảng 48%, kỹ năng công nghiệp hạn chế và bị chi phối bởi trách nhiệm chăm sóc gia đình nên khó đáp ứng yêu cầu tăng ca liên tục.

Câu hỏi 2: Sự tham gia của Hội Phụ nữ huyện Tân Yên thể hiện rõ nét nhất qua những hoạt động cụ thể nào? Trả lời: Sự tham gia của Hội thể hiện qua 4 hoạt động trọng tâm: Tuyên truyền chủ trương chính sách việc làm; Phối hợp tổ chức tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề ngắn hạn; Ủy thác quản lý nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội; và Giới thiệu việc làm tại doanh nghiệp địa phương hoặc liên kết xuất khẩu lao động theo Chỉ thị số 04.

Câu hỏi 3: Luận văn đã áp dụng phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu khảo sát như thế nào để đảm bảo tính đại diện? Trả lời: Nghiên cứu thực hiện khảo sát 105 mẫu điều tra thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại các xã đại diện của huyện Tân Yên. Mẫu khảo sát gồm 90 lao động nữ nông thôn thuộc nhiều nhóm tuổi, hoàn cảnh kinh tế khác nhau và 15 cán bộ quản lý các cấp, bảo đảm phản ánh khách quan bức tranh việc làm tại địa bàn.

Câu hỏi 4: Những chính sách pháp lý nào đóng vai trò trụ cột trong hỗ trợ việc làm cho phụ nữ nông thôn? Trả lời: Hai chính sách trụ cột là Quyết định số 1956/QĐ-TTg về Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 và Quyết định số 295/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm. Bên cạnh đó, nguồn vốn vay Quỹ 120 và các nghị quyết đặc thù của Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang đóng vai trò đòn bẩy tài chính quan trọng.

Câu hỏi 5: Bài học kinh nghiệm nào từ các địa phương khác có thể áp dụng hiệu quả cho Hội Phụ nữ huyện Tân Yên? Trả lời: Tân Yên có thể học tập mô hình kết nối hơn 2.500 lao động vào khu công nghiệp của huyện Yên Phong (Bắc Ninh), đồng thời nhân rộng mô hình nhóm phụ nữ tiết kiệm và quản lý vốn vay vi mô quy mô hơn 3,4 tỷ đồng của huyện Vũ Thư (Thái Bình) nhằm tăng cường nguồn vốn nội lực cho hội viên giai đoạn 2018 - 2022.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về sự tham gia của tổ chức chính trị - xã hội trong hỗ trợ việc làm và bảo đảm an sinh cho lao động nữ nông thôn.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh việc làm huyện Tân Yên giai đoạn 2015 - 2017, chỉ rõ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm 40,76% và khoảng 48% lao động trong độ tuổi chưa qua đào tạo nghề bài bản.
  • Nhận diện chính xác 4 rào cản căn bản: chất lượng đào tạo nghề còn nặng lý thuyết, rào cản tuyển dụng đối với phụ nữ trên 30 tuổi, năng lực cán bộ Hội chưa đồng đều và nguồn kinh phí hỗ trợ còn hạn chế.
  • Xác lập hệ thống 4 giải pháp chiến lược gắn đào tạo nghề thực hành trên 70% với kết nối chuỗi cung ứng việc làm và hỗ trợ vốn vay Quỹ 120 cho hơn 1.000 hội viên giai đoạn 2018 - 2022.
  • Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn vững chắc giúp các cấp chính quyền nâng cao hiệu lực chính sách bình đẳng giới và phát triển bền vững thị trường lao động địa phương.

Trong thời gian tới, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Tân Yên và các cơ quan chức năng cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất thành chương trình hành động cụ thể, tăng cường liên kết 3 nhà: Nhà nước - Doanh nghiệp - Hội Phụ nữ. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cán bộ ban ngành quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các mô hình sinh kế bền vững cho lao động nông thôn.