Tính cấp thiết của luận án Thực tiễn nước ta cho thấy, dân cư sống ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dân số ở Việt Nam (trên 68% dân số Việt Nam sống ở khu vực nông thôn). Trong thời gian vừa qua, Đảng và Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp, chính sách nhằm đa dạng hóa việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này. Nhưng thu nhập thực tế của người dân nông thôn nói chung, nông dân khu vực Tây Bắc nói riêng còn nhiều hạn chế. Báo cáo từ Tổng cục Thống kê năm 2011 cho biết, thu nhập của người dân nông thôn mặc dù tăng đều qua các năm, tuy nhiên mức thu nhập bình quân trong khu vực nông thôn mới chỉ đạt 891 nghìn đồng/người/tháng; trong đó thu nhập của nhóm nghèo, nhóm cận nghèo lần lượt là 406 nghìn/người/tháng và 644 nghìn đồng/người/tháng.
Nói cách khác, thu nhập bình quân của nhóm đối tượng cận nghèo ở khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay mới chỉ tương đương với mức chuẩn xác định nghèo của ngân hàng thế giới thiết lập ở năm 1993 (người nghèo là người có thu nhập dưới 1usd/người/ngày). Nhà nước, chính quyền trung ương ban hành rất nhiều chủ trương đường lối, các biện pháp chính sách về việc làm nhằm tạo điều kiện để người dân nông thôn gia tăng thu nhập. Tuy nhiên việc thực hiện những chủ trương đó tại các cơ sở lại chưa hiệu quả, chưa đem lại những biến đổi thu nhập tích cực đối với người dân nông thôn. Chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.
Hệ thống chính sách việc làm, dạy nghề và giải pháp thực hiện mục tiêu hỗ trợ việc làm cho người lao động, phát triển thị trường lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn (nhất là nông thôn khu vực Tây Bắc) được xem là một trong những chính sách cơ bản nhất của quốc gia. Chính sách việc làm nhằm giải quyết thoả đáng nhu cầu việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm; góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội; tạo điều kiện phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cho người lao động. Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn một số vướng mắc hạn chế kết quả triển khai các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với lao động nông thôn Tây Bắc, cụ thể như sau: Thứ nhất, vùng miền núi miền núi Tây Bắc, Việt Nam địa hình hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Tuy nhiên đây 2 cũng là địa bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng yếu kém; xuất phát điểm và trình độ phát triển kinh tế-xã hội thấp, tỷ hộ nghèo cao, mặt bằng dân trí thấp, thường bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt.
Do đó, hỗ trợ việc làm cho người lao động luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm để tạo dựng việc làm, duy trì cuộc sống ổn định, lâu dài, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế-xã hội của vùng. Thứ hai, từ Đổi mới đến nay Đảng và Nhà nước đã ban hành chính sách về hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn, nhất là lao động vùng miền núi với nhiều hình thức hỗ trợ khác nhau và đã thu được nhiều kết quả khả quan, tỷ lệ hộ nsghèo giảm, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao. Tuy nhiên so với yêu cầu thực tế hiện nay, vẫn còn nhiều hạn chế bất cập như cơ cấu ngành đào tạo chưa phù hợp với thị trường lao động, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; nhiều người đã qua đào tạo nghề vẫn gặp nhiều khó khăn để tìm được việc làm; nhiều người phải làm việc không phù hợp với chuyên môn, ngành nghề được đào tạo; tỷ lệ thiếu việc làm còn khá cao. báo cáo của Bộ Lao động thương binh và Xã hội năm 2016 về phê duyệt kết quả hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2016 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 cho hay, cả nước có 1.697 hộ nghèo (chiếm 8,23% tỷ lệ so với tổng số hộ dân cư trên toàn quốc) và có 1.928 hộ cận nghèo (chiếm 5,41%;) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Trong đó số hộ nghèo miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với 31,24 %, tiếp theo là miền núi Đông Bắc (17,72%), khu vực Tây Nguyên (15,27%), Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước là 1,05% và Đồng bằng Sông Hồng chỉ có 3, 23%. Do đó cần có những đánh giá về hiệu quả, tác động của chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động khu vực Tây Bắc, từ đó đề xuất những mô hình, chính sách phù hợp, đảm bảo hiệu quả và tính bền vững. Thứ ba, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vùng miền núi phải đối mặt với các cú sốc bên trong và bên ngoài ngày càng lớn. Hội nhập quốc tế góp phần tạo nhiều cơ hội như tăng khả năng thông thương, khả năng tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo cơ hội và nâng cao mức hưởng thụ văn hoá, làm giàu vốn văn hoá miền núi, góp phần cải thiện cuộc sống và xoá đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, vùng miền núi cũng sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nhiều thách thức trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động. Khoảng cách giàu nghèo giữa vùng miền núi và vùng đồng bằng ngày một lớn; hàng hoá sản phẩm của vùng miền núi làm ra khó tiêu thụ hơn do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, chất lượng sản phẩm chưa cao; văn hoá truyền thống dễ bị mai một dần nếu không được bảo tồn và phát triển; môi trường ngày càng suy thoái do áp lực phát triển kinh tế, người dân vùng miền núi khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và do các chất thải công 3 nghiệp; tình trạng phạm tội và các tệ nạn xã hội nếu không kiểm soát được sẽ đe doạ sự ổn định chính trị, xã hội và khối đại đoàn kết miền núi. Điều này đòi hỏi Nhà nước cần có những quyết sách đúng đắn, tạo mọi điều kiện cần thiết để vùng miền núi có thể tận dụng được cơ hội và vượt qua những thách thức trong điều kiện hội nhập. Hỗ trợ việc làm cho lao động khu vực Tây Bắc sẽ là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết vấn đề này.
Cuối cùng, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung, cho người miền núi nói riêng. Tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn chưa đầy đủ, thiếu tính hệ thống, thiếu tính dự báo và thường tách rời giữa dạy nghề với hỗ trợ việc làm. Các phân tích về chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động mới chỉ tập trung vào các đặc trưng về vị thế và vai trò của người miền núi cũng như vào chính sách nhìn từ góc độ của Nhà nước mà chưa lấy đối tượng thụ hưởng chính sách là trọng tâm, chưa tính đến đặc trưng về lịch sử, văn hoá miền núi, kinh tế xã hội, nhu cầu và tâm lý của các nhóm lao động. Chưa có nghiên cứu nào hệ thống đầy đủ, toàn diện các chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động và cũng chưa có đánh giá đầy đủ, tổng hợp hiệu quả, tác động của các chính sách này.
Chính vì vậy tác giả lựa chọn thực hiện nghiên cứu “Chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nông thôn khu vực Tây Bắc” là có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối. Luận án sẽ cung cấp cơ sở lý luận cũng như thực tiễn đối với khu vực Tây Bắc về các chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động; hệ thống hoá và đánh giá một cách toàn diện các chính sách hỗ trợ việc làm từ 1993 đến nay; phân tích, đánh giá hiệu quả, tác động và nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động; dự báo nhu cầu hỗ trợ việc làm cho lao động; từ đó có căn cứ để đề xuất giải pháp, chính sách, mô hình phù hợp, hiệu quả, bền vững đối với việc hỗ trợ việc làm, đảm bảo cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất hàng hóa tiến tới giảm nghèo bền vững, từ đó thực hiện được mục tiêu đảm bảo quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Hiểu được chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nông thôn - Nghiên cứu điển hình đối với khu vực Tây Bắc. Đánh giá được được thực trạng chính sách hỗ trợ việc làm, kết quả cũng như tác động của việc thực hiện chính sách này đến biến đổi việc làm của lao động nông thôn, đến thay đổi tình trạng thu nhập và đời sống của bản thân người lao động và gia đình họ.
4 Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện đối với chính sách hỗ trợ việc làm nhằm gia tăng thu nhập, đời sống của lao động nông thôn đến năm 2030.