Chương 1. “Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của HNQT trong l nh vực THTT ở Việt Nam” gồm 02 phần lớn: Các khái niệm, vai trò của HNQT trong l nh vực THTT ở Việt Nam; Hiện trạng THTT trên thế giới và tại Việt Nam, - Chương 2: “Thực trạng vai trò HNQT của Việt Nam trong l nh vực THTT” gồm 02 phần lớn: Quá trình tham gia HNQT của THTT Việt Nam; Tác động của HNQT đến l nh vực THTT ở Việt Nam. - Chương 3: “Giải pháp nâng cao vai trò của HNQT trong l nh vực THTT ở Việt Nam” trình bày về các thuận lợi và khó khăn của THTT ở Việt Nam trong HNQT, xu hướng phát triển của THTT ở Việt Nam; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vai trò HNQT trong l nh vực THTT ở Việt Nam. 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA HNQT TRONG LĨNH VỰC THTT Ở VIệT NAM 1.
Các khái niệm Khái niệm HNQT Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường c ng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều l nh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia.
Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển. Về ngữ ngh a, “hội nhập” có nguồn gốc từ “liên kết” (integration) với ngh a chung nhất là hành động hoặc quá trình g n kết các phần tử riêng rẽ với nhau; hợp chung các bộ phận vào một chỉnh thể (nhất thể, hợp nhất) và kết hợp các thành tố khác nhau lại (t hội, t nhóm). Như vậy, HNQT được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), HNQT vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia.
Khái niệm THTT “THTT” là thuật ngữ mới ra đời ở Việt Nam sau sự ra đời của truyền hình Cáp ở Việt Nam, là thuật ngữ được dịch từ gốc tiếng anh, do đó, để hiểu và có thể nghiên cứu đầy đủ về THTT cần thiết phải hiểu từ gốc tiếng Anh của thuật ngữ này. Đó là “pay TV” “Trả tiền” (pay) là hành động trả tiền, đóng tiền, nộp tiền. Trong tiếng Việt mỗi ngữ cảnh được hiểu theo một ngh a khác nhau nhưng trong l nh vực truyền hình các khái niệm này được dùng để chỉ chung một khái niệm [23] 10 z “Truyền hình” (TV – television) là một công nghệ thuộc l nh vực điện tử viễn thông, nó bao gồm tập hợp nhiều thiết bị điện tử. Có khả năng thu nhận tín hiệu sóng vô tuyến c ng như truyền dẫn các tìn hiệu điện mang hình ảnh và âm thanh được mã hóa, được phát dưới dạng sóng vô tuyến hoặc thông qua hệ thống cáp quang, hoặc cáp đồng tr c.
Truyền hình đáp ứng cùng một lúc cả hai chức năng nghe và nhìn, những hình ảnh sẻ được trình chiếu trên các màn hình và âm thanh được phát trên hệ thống loa. Truyền hình có tên tiếng Anh là Television, ngoài ra có các tên gọi khác như Tivi, Vô tuyến truyền hình hoặc ng n gọn hơn chính là từ truyền hình [23]. THTT là dịch v ứng d ng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chương trình, chương trình THTT và các dịch v giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch v THTT đến thuê bao THTT theo hợp đồng cung cấp dịch v hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương (gọi là Hợp đồng cung cấp dịch v THTT). Dịch v THTT có thể được cung cấp trực tiếp (dịch v truyền hình trực tiếp) hoặc theo yêu cầu (dịch v truyền hình theo yêu cầu) đến thuê bao THTT.
Thuê bao THTT (gọi t t là Thuê bao) là tổ chức, cá nhân sử d ng dịch v THTT của đơn vị cung cấp dịch v THTT theo Hợp đồng cung cấp dịch v THTT. Thiết bị đầu cuối thuê bao THTT (gọi t t là Thiết bị đầu cuối) là thiết bị mà thuê bao sử d ng để kết nối với điểm kết cuối của hạ tầng kỹ thuật THTT để nhận tín hiệu của đơn vị cung cấp dịch v THTT [23]. Khái niệm HNQT trong lĩnh vực THTT. Từ những phân tích nêu trên, Luận văn định ngh a khái niệm HNQT trong l nh vực THTT là: HNQT trong lĩnh vực THTT (international integration on pay TV) là quá trình Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế , các liên minh, hiệp hội về truyền hình, tiếp thu, học hỏi chia sẻ kinh nghiệm phát triển THTT với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Các loại hình dịch v THTT được phân chia theo phương thức truyền dẫn phát sóng, bao gồm: - Dịch v truyền cáp: là một loại hình dịch v THTT chủ yếu sử d ng dịch v hạ tầng kỹ thuật mạng cáp với các công nghệ khác nhau để phân phối nội dung thông tin trên THTT trực tiếp đến thuê bao THTT. 11 z - Dịch v truyền hình mặt đất kỹ thuật số: là một loại hình dịch v THTT chủ yếu sử d ng hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình mặt đất kỹ thuật số (DVB-T) để phân phối nội dung thông tin trên THTT trực tiếp đến thuê bao THTT. - Dịch v truyền hình trực tiếp qua vệ tinh: là một loại hình dịch v THTT chủ yếu sử d ng hạ tầng kỹ thuật phát sóng trực tiếp qua vệ tinh (DTH) để phân phối nội dung thông tin trên THTT trực tiếp đến thuê bao THTT. - Dịch v truyền hình di động: là một loại hình dịch v THTT chủ yếu sử d ng dịch v hạ tầng kỹ thuật mạng phát sóng truyền hình di động mặt đất kỹ thuật số, truyền hình di động vệ tinh kỹ thuật số hoặc mạng viễn thông di động để phân phối nội dung thông tin trên kênh THTT trực tiếp đến thuê bao THTT.
Vai trò của THTT trong HNQT Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Xu thế này đã có tác động sâu s c đến hầu hết các lính vực trong đời sống xã hội, kinh tế và chính trị của các quốc gia và các mối quan hệ quốc tế, thúc đẩy sự hội nhập sâu s c của các nền kinh tế. Sự ra đời của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với sự tham gia của 150 quốc gia là minh chứng rõ nét của sự phát triển và hội nhập của kinh tế thế giới. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đi theo xu hướng chung của HNQT.
Kể từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nền kinh tế Việt Nam đã từng bước chuyển mình và hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới. Tất cả l nh vực trong nền kinh tế Việt Nam đều có những bước phát triển vượt bậc, hòa mình vào xu thế hội nhập và quốc tế hóa toàn cầu. Năm 2006 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra một thời kỳ mới cho nền kinh tế Việt Nam, tạo ra vị thế mới trên trường quốc tế. Ngành truyền hình nói chung và THTT nói riêng c ng không nằm ngoài sự phát triển này.
Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, sau đó phát triển như v bão nhờ tiến bộ của khoa học công nghệ, truyền hình đã trở thành công c s c bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa c ng như các l nh vực kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. Bên cạnh các đặc điểm chung của báo chí, truyền hình c ng có các đặc tính riêng biệt, truyền hình 12 z mang tính thời sự với khả năng phát sóng 24h/ngày, cung cấp cho khán giả thông tin kịp thời và chi tiết. Với truyền hình sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa diễn ra, thậm chí đang diễn ra, người xem có thể xem tường tận nhờ cầu truyền hình hoặc truyền hình trực tiếp. Truyền hình có khả năng phát sóng 24/24h trong ngày, luôn mang đến cho người xem những thông tin được cập nhật nhất.
Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, THTT đã ra đời giúp người xem hoàn toàn chủ động về thời gian, thể loại nội dung và cách thức xem truyền hình của mình. Với những tính năng ưu việt như vậy, THTT đã có vai trò rất lớn trong quá trình hội nhập quốc tế. Vai trò tích cực này được thể hiện rõ nét trong các l nh vực như sau: Trong l nh vực khoa học công nghệ. THTT đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc hợp tác giữa các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu các công nghệ khoa học kỹ thuật mới và vận d ng sáng tạo vào từng quốc gia.
Sự phát triển như v bão của khoa học công nghệ kéo theo sự ra đời của nhiều loại hình truyền hình, THTT với nhiều tính năng mới mẻ và hấp dẫn ph c v nhu cầu giải trí ngày càng tăng cao. Trong những năm gần đây, tiến trình số hóa đang là xu hướng tất yếu của các đài phát thanh truyền hình trên thế giới hướng tới, nhằm nâng cao hiệu quả TTTT, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, nhiều chiều của khán thính giả. Hiện nay, khán giả không nhất thiết phải ngồi tại nhà, trước màn hình TV để xem truyền hình. Khán giả có thể xem truyền hình ở bất kỳ đâu và bất kỳ khi nào thông qua các thiết bị có kết nối internet như máy tính hay điện thoại di động.
Thực tế này đã tạo ra một lượng khán giả khổng lồ cho ngành truyền hình. Trong l nh vực kinh tế. Ngày nay, trong quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế của các quốc gia đang hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế thế giới.