Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa với đề tài "Vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng (Từ thực tiễn Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam)" do nghiên cứu sinh Lý Thị Ngọc Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Duy Thiệu, bảo vệ tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2023 (Mã số chuyên ngành: 9229042).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo tồn và phát triển dựa vào cộng đồng là xu thế chung của bảo tàng học đương đại nhằm khai thác bền vững giá trị di sản. Theo văn bản luận án, từ Hội nghị bàn tròn Santiago tại Chile năm 1972 (được UNESCO công bố năm 1973), mô hình bảo tàng học thế giới đã chuyển dịch từ việc tập trung vào quyền sở hữu, bảo quản và giải thích của chuyên gia sang đặt nhu cầu của cộng đồng ở vị trí cốt lõi. Cộng đồng đóng vai trò là chủ thể nắm giữ ký ức và lịch sử, cung cấp chất liệu cho hoạt động trưng bày.

Tại Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (DTHVN) đã xác định phương châm "Bảo tàng vì cộng đồng" từ khi thành lập, đưa chủ thể văn hóa trực tiếp tham gia trưng bày và thực hành di sản văn hóa phi vật thể tại không gian bảo tàng. Tuy nhiên, trong thực tiễn ngành bảo tàng tại Việt Nam, quan niệm và phương thức hợp tác với cộng đồng theo các cấp độ khác nhau vẫn chưa được nghiên cứu hệ thống hóa, chưa hình thành mô hình lý luận rõ ràng để phổ biến và chuyển giao kinh nghiệm cho các bảo tàng tương đương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Xem xét vai trò của cộng đồng tham gia trong hoạt động trưng bày tại bảo tàng, nghiên cứu sự khác biệt giữa các cấp độ tham gia của cộng đồng trong các dự án trưng bày.
  • Phân tích thuận lợi, khó khăn trong hoạt động trưng bày có sự tham gia của cộng đồng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, khẳng định tính hiệu quả của phương thức này.
  • Làm rõ các mức độ hợp tác cộng đồng khác nhau, không áp dụng máy móc cho mọi dự án, từ đó đúc kết kinh nghiệm có thể áp dụng cho các bảo tàng có chức năng tương ứng và truyền cảm hứng tương tác, trao quyền ngoài không gian bảo tàng.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ):

  1. Trình bày những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận chung, nhận thức sâu sắc vai trò của bảo tàng trong bảo tồn di sản văn hóa, vị trí của công tác trưng bày và mối quan hệ giữa bảo tàng với cộng đồng.
  2. Nghiên cứu xu hướng bảo tàng học thế giới về hợp tác với cộng đồng để bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; phân tích việc phát triển sưu tập gắn với trưng bày thường xuyên và trưng bày nhất thời.
  3. Xem xét mối tương quan lý thuyết, nguyên tắc và phương pháp mà Bảo tàng DTHVN sử dụng để nghiên cứu, hợp tác với cộng đồng nhằm lưu giữ di sản của chính họ.
  4. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động trưng bày tại Bảo tàng DTHVN, đo lường hiệu quả qua phản hồi của khách tham quan, chủ thể văn hóa và nhà quản lý.
  5. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vai trò của cộng đồng đối với hoạt động bảo tàng là gì?
  2. Quan điểm và các hình thức bảo tàng trao quyền cho cộng đồng trong hoạt động trưng bày như thế nào?
  3. Các mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động trưng bày được phân chia ra sao?
  4. Tính hiệu quả của việc hợp tác với cộng đồng trong hoạt động trưng bày được thể hiện như thế nào?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Luận án giả định rằng hợp tác với cộng đồng trong hoạt động trưng bày và giới thiệu di sản văn hóa là yếu tố quyết định sự phát triển của bảo tàng.
  • Sự tham gia của cộng đồng chủ thể văn hóa trong hoạt động bảo tàng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa của chính cộng đồng đó.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của cộng đồng - chủ thể văn hóa trong hoạt động trưng bày của bảo tàng; quan điểm, quá trình tổ chức thực hiện trưng bày có sự tham gia của cộng đồng tại Bảo tàng DTHVN.
  • Phạm vi vấn đề: Quan niệm, cách thức hoạt động và thực tiễn hợp tác với cộng đồng tại Bảo tàng DTHVN trong các hình thức trưng bày thường xuyên, trưng bày nhất thời, trình diễn di sản văn hóa phi vật thể và các dự án truyền thông cộng đồng (như photovoice).
  • Phạm vi thời gian: Từ những ngày đầu thành lập bảo tàng đến năm 2022.
  • Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội) và khảo sát mở rộng ở một số cộng đồng cư trú gắn với hoạt động trưng bày ngoài bảo tàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm chủ đề:

1. Nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trưng bày bảo tàng

  • Lý luận trưng bày quốc tế và trong nước: Vương Hoằng Quân (2001, Trung Quốc) nhấn mạnh bảo tàng phải "lấy con người làm gốc", tham gia và phục vụ xã hội. M.E. Kaulen (Nga) xem kho bảo tàng là "từ điển" và trưng bày là "bài viết" dựa trên ngữ pháp trưng bày. Barry Lord và Maria Piacente (The Manual of Museum Exhibitions, 2002, 2014) phân tích sự dịch chuyển quyền lực từ chuyên gia sang công chúng và vai trò của không gian trưng bày mở. Tại Việt Nam, Đào Duy Kỳ (1967) đặt nền móng khoa học bảo tàng tiếp thu kinh nghiệm Liên Xô; Nguyễn Hải Ninh (2008, 2010) bàn về nhu cầu đổi mới và đánh giá trưng bày; Nguyễn Trường Giang (2012) tiếp cận trưng bày nhân học và phim cộng đồng; Anne Carine Schmidt và Bùi Kim Đĩnh (2008) phân tích "ý tưởng lớn" trong diễn giải; Nguyễn Văn Huy (2008, 2012) khẳng định trưng bày là linh hồn bảo tàng và văn hóa đời thường là đối tượng trưng bày; Nguyễn Hoàng Hưng (2018) nghiên cứu nghệ thuật trưng bày không gian tại các bảo tàng lớn ở Việt Nam.
  • Thực tiễn trưng bày có cộng đồng: Viv Golding và Wayne Modest (2013) tổng hợp các nghiên cứu về thực hành giám tuyển có sự tham gia của các nhóm cộng đồng tại Anh, Mỹ, Canada, Đài Loan. Các hội thảo do Cục Di sản văn hóa và Bảo tàng DTHVN phối hợp tổ chức, cùng các bài thuyết trình của chuyên gia quốc tế như Francois Confino (2017) và Russel Staiff (2017) đều nhấn mạnh xu hướng tương tác với chủ thể văn hóa.

2. Nghiên cứu về quan hệ bảo tàng, cộng đồng và quản lý

  • Văn kiện quốc tế và hội thảo: Khuyến nghị của UNESCO (1960, 1989, 2003 về Di sản phi vật thể, 2005 về Đa dạng văn hóa, 2006 tại Tokyo); Hội nghị bàn tròn Santiago de Chile (1972/1973); Hội nghị ICOM (2004 tại Hàn Quốc, định nghĩa sửa đổi năm 2007 về bảo tàng). Các công trình của Anita B. Shah (1995), Teresa Cristina Scheiner (1995), Christina Kreps (2003), Peter Davis (2007), Andrew Newman (2005), Stephen Weil (2002), Laura Peers và Alison K. Brown (2003) nghiên cứu về "cộng đồng nguồn" (source communities) và tính đối tác bình đẳng giữa bảo tàng và người dân địa phương.
  • Quản lý và thực hành: Piotr Bienkowski (2008, 2010) phân tích mô hình bảo tàng và cộng đồng là đối tác hoạt động dựa trên 5 lĩnh vực quản trị; Lynda Kelly (2004) đo lường tác động xã hội của bảo tàng; Sheila Watson (2007) bàn về cảm xúc của cộng đồng trong thiết kế trưng bày; Hội thảo "Bảo tàng - Cộng đồng: Quan điểm và cách tiếp cận" (Bảo tàng DTHVN, 2015) tập hợp hơn 50 tham luận phân tích các phương pháp tiếp cận mới.

3. Nghiên cứu về vai trò cộng đồng tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

  • Nguyễn Văn Huy và Margaret Barnhill Bodemer (2008) trong công trình Faces, Voices, and Lives ghi lại kinh nghiệm đưa tiếng nói của người dân vào trưng bày; Vũ Thị Hà (2015) phân tích cộng đồng là khởi nguồn ý tưởng trưng bày; Nguyễn Duy Thiệu và Vũ Thị Phương Nga (2011) nghiên cứu phương thức trao giọng nói qua photovoice và phim cộng đồng; Phạm Văn Dương (2015) đánh giá phương pháp trưng bày phi truyền thống; Lê Tùng Lâm (2015) phân tích mô hình "bảo tàng sống"; Dương Thị Thùy Ninh (2016) khảo sát trường hợp phục dựng nhà Chăm qua 5 đợt; Phạm Thị Thủy Chung (2016) nghiên cứu sự biến đổi tính thiêng của hiện vật ghe ngo Khmer khi vào không gian bảo tàng.

4. Nghiên cứu tiếp cận lý thuyết tham gia và trao quyền

  • Aaron Seagraves (2009, Đại học Oregon) nghiên cứu việc cộng đồng tham gia định hình bản sắc trong trưng bày; Vanessa Rae Escarcega Gomes (2010) xây dựng bậc thang tham gia đối với nhóm trẻ em; Joanna Wills (2007, Đại học Quốc gia Úc) phân tích các dự án có sự tham gia của cộng đồng dưới góc độ quản lý văn hóa; Nguyễn Thị Thu Trang (2013) nghiên cứu văn hóa cộng đồng như hiện tượng xã hội tổng thể.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  1. Chưa có công trình hệ thống hóa đầy đủ và phân cấp rõ ràng các mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng tại Việt Nam từ góc độ quản lý văn hóa.
  2. Thiếu sự phân tích sâu sắc về quá trình dịch chuyển vai trò, quyền quyết định giữa cán bộ chuyên môn bảo tàng và cộng đồng chủ thể di sản qua từng giai đoạn dự án.
  3. Chưa xây dựng được khung mô hình hóa mang tính ứng dụng cao từ thực tiễn Bảo tàng DTHVN để có thể chuyển giao, chia sẻ kinh nghiệm cho hệ thống bảo tàng tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm tiếp cận

  • Khái niệm cộng đồng: Luận án tiếp cận khái niệm cộng đồng từ góc độ xã hội học và tâm lý học xã hội (D. Chavis, McMillan 1976), xác định cộng đồng là nhóm người chia sẻ không gian, tương tác xã hội, nhận thức bản sắc và có sự liên kết về di sản văn hóa.
  • Lý thuyết sự tham gia của cộng đồng: Dựa trên khung bậc thang tham gia của David Wilcox (1994), luận án chuẩn hóa thành 5 mức độ tham gia trong trưng bày bảo tàng:
    1. Thông tin: Cộng đồng đóng góp hiện vật, cung cấp thông tin ban đầu cho cán bộ bảo tàng.
    2. Tư vấn: Cán bộ bảo tàng tham vấn ý kiến của cộng đồng về cách diễn giải hiện vật, nhưng quyền quyết định thuộc về cán bộ bảo tàng.
    3. Thực hiện cùng nhau: Thành lập nhóm phối hợp triển khai không gian trưng bày, phụ thuộc vào hướng dẫn của chuyên gia nhưng cộng đồng tham gia trực tiếp vào kỹ thuật thực hiện.
    4. Quyết định cùng nhau: Cộng đồng tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và đồng quyết định các vấn đề chuyên môn nội dung trưng bày.
    5. Bảo tàng hỗ trợ cộng đồng hoạt động độc lập: Mức độ tự chủ cao nhất, cộng đồng chủ động phát triển ý tưởng, kiểm soát quy trình, bảo tàng đóng vai trò hỗ trợ chuyên môn và kinh phí.
  • Lý thuyết trao quyền: Luận án sử dụng khung lý thuyết trao quyền của Solomon (1976), Rappaport (1981, 1985), Israel và cộng sự (1994), Laverack (2004), UNDP (1995), và mô hình 5 giai đoạn liên tục của Jackson (1989) và Labonte (1989) để giải thích sự chuyển dịch quyền hạn từ thiết chế bảo tàng sang người dân địa phương.

Khung phân tích mức độ tham gia tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Mức độ tham gia Hình thức tham gia của cộng đồng Trường hợp áp dụng tại Bảo tàng DTHVN
1. Thông tin Đóng góp thông tin, hiến tặng hiện vật cho dự án. Trưng bày Văn hóa Việt Nam (Tòa Trống đồng).
2. Tư vấn Tham vấn về thông tin, câu chuyện, chỉnh lý chú thích hiện vật. Trưng bày Văn hóa Việt Nam (Tòa Trống đồng).
3. Thực hiện cùng nhau Trực tiếp tham gia thi công, dựng không gian dưới sự điều phối chuyên môn. Không gian trưng bày ngoài trời "Vườn kiến trúc".
4. Quyết định cùng nhau Cùng lập kế hoạch, quyết định nội dung diễn giải và thông điệp văn hóa. Các trưng bày nhất thời, hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể.
5. Hỗ trợ cộng đồng độc lập Tự chủ hoàn toàn về nội dung, thông điệp; chuyên gia bảo tàng chỉ hỗ trợ kỹ thuật. Dự án truyền thông cộng đồng: Photovoice, phim cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp xử lý, kế thừa tài liệu thứ cấp: Khai thác kho lưu trữ, hồ sơ khoa học, tư liệu ảnh, phim, băng ghi âm và thư viện của Bảo tàng DTHVN từ năm 1995 đến 2022.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự, ghi chép thực địa, phỏng vấn sâu, ghi âm và ghi hình các nhóm nghệ nhân, thợ thủ công, chủ thể văn hóa khi tham gia hoạt động bảo tàng.
  • Phương pháp nghiên cứu xã hội học:
    • Định tính: Xây dựng phỏng vấn sâu, phỏng vấn bán cấu trúc đối với lãnh đạo quản lý, chuyên gia bảo tàng học, cán bộ trưng bày và người dân thuộc các cộng đồng.
    • Định lượng: Thu thập và xử lý phiếu điều tra bảng hỏi đối với khách tham quan và các nhóm chủ thể văn hóa tại các sự kiện trưng bày, trình diễn.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt hoạt động của Bảo tàng DTHVN trong tiến trình phát triển lịch sử, liên kết giữa trưng bày trong nhà, ngoài trời và các hoạt động giáo dục công chúng.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh các mức độ tham gia của cộng đồng qua từng dự án trưng bày; so sánh phương thức thực hiện giữa trưng bày truyền thống và trưng bày có sự tham gia.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nhân học, dân tộc học và bảo tàng học từng trực tiếp tham gia xây dựng Bảo tàng DTHVN.
  • Phương pháp phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) trong việc quản trị các dự án trưng bày dựa vào cộng đồng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, quan điểm và cách tiếp cận của luận án

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về trưng bày bảo tàng, vai trò của cộng đồng và lý thuyết trao quyền. Luận án làm rõ quá trình hình thành Bảo tàng DTHVN từ chủ trương tại Công văn số 1386/V4 ngày 20/04/1981 của Hội đồng Bộ trưởng, khởi công xây dựng cuối năm 1989 và chính thức khai trương mở cửa ngày 12/11/1997 nhân dịp Hội nghị cấp cao các nước có sử dụng tiếng Pháp tại Hà Nội.

Luận án phân tích cơ cấu tổ chức và nhân lực của Bảo tàng DTHVN: từ 18 cán bộ ban đầu (tiếp nhận từ Viện Dân tộc học), tính đến tháng 12/2020 bảo tàng có 87 nhân sự (53 biên chế, 34 hợp đồng), gồm 3 PGS.TS, 11 Tiến sĩ, 28 Thạc sĩ và 45 Cử nhân. Đội ngũ cán bộ xuất thân từ ngành dân tộc học, quen thuộc với phương pháp điền dã và quan điểm đồng hành cùng người dân (insider/outsider). Bảo tàng tiếp thu kinh nghiệm quốc tế qua các khóa tập huấn và dự án hợp tác như:

  • Lớp tập huấn "Trao giọng nói cho người dân, bảo tàng và cộng đồng" (1999-2000, chuyên gia Chriss Kramer, Viện Smithsonian, Hoa Kỳ).
  • Các lớp tập huấn trưng bày vùng đồng bằng sông Cửu Long (2003, 2004, TS. Frank Proschan).
  • Dự án "Cuộc sống ở đồng bằng sông Cửu Long - câu chuyện của 6 cộng đồng".
  • Dự án "Truyền thông dựa vào cộng đồng tại Việt Nam: Những câu chuyện với giọng nói chủ thể" (2006-2009, 2010-2016, chuyên gia Wendy Erd và Peter Kaufmann).

Luận án phân định sự khác biệt về bản chất giữa trưng bày truyền thống và trưng bày có sự tham gia của cộng đồng:

Tiêu chí Trưng bày truyền thống Trưng bày có sự tham gia của cộng đồng
Nội dung truyền tải Toàn bộ dựa trên nền tảng kiến thức khoa học chuyên gia. Tập trung vào chủ đề, câu chuyện và trải nghiệm của người trong cuộc.
Phương thức hướng dẫn Cán bộ bảo tàng cung cấp thông tin định sẵn một chiều. Biến thành cuộc trò chuyện nhiều chiều giữa khách tham quan, cán bộ và cộng đồng.
Tính khách quan - chủ quan Cung cấp câu trả lời chuẩn mực đóng khung về nguồn gốc, lịch sử. Mở ra nhiều quan điểm, khả năng tiếp cận và suy ngẫm đa chiều về chủ đề.

Chương 2: Vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày thường xuyên

Chương 2 tập trung khảo sát hai không gian trưng bày thường xuyên của Bảo tàng DTHVN: Trưng bày trong tòa nhà Trống đồng và Trưng bày ngoài trời (Vườn kiến trúc).

  • Thu thập thông tin và sưu tầm hiện vật: Giai đoạn 1995-1997, bảo tàng triển khai dự án "Điều tra, nghiên cứu và sưu tầm các dạng vật chất của văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam (1995-1997)". Quan điểm sưu tầm là bắt đầu từ hiện tại ngược về quá khứ, tôn trọng tính bình đẳng giữa 54 dân tộc, không chỉ sưu tầm cổ vật quý hiếm mà thu thập cả đồ dùng sinh hoạt đương đại gắn liền với ký ức, kỹ thuật chế tác và câu chuyện của chủ thể văn hóa.
  • Cộng đồng tư vấn và chỉnh lý trưng bày: Người dân tham gia vào việc giải thích công năng, ý nghĩa biểu tượng, tên gọi bản địa và cung cấp chất liệu cho các bài viết, chú thích hiện vật trong tòa nhà Trống đồng.
  • Cộng đồng cùng thực hiện tại không gian Vườn kiến trúc: Bảo tàng không thuê thợ xây dựng công nghiệp mà mời chính các nhóm nghệ nhân, thợ thủ công dân gian từ các vùng miền về bảo tàng trực tiếp dựng nhà (nhà rông Ba Na, nhà dài Êđê, nhà mồ Gia Rai, nhà sàn Tày, nhà nửa đất nửa sàn của người Dao, nhà trình tường người Hà Nhì, nhà trệt H'mông, nhà ngói người Kinh, khuôn viên nhà Chăm...). Quá trình tu bổ, lợp lại mái, sửa chữa định kỳ (như 5 đợt tu sửa nhà Chăm) đều do chính các nhóm thợ bản địa thực hiện theo đúng tri thức dân gian và nghi lễ truyền thống.

Chương 3: Vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày nhất thời

Chương 3 phân tích sự chuyển biến từ mức độ phối hợp sang trao quyền quyết định cho cộng đồng trong các trưng bày chuyên đề ngắn hạn và hoạt động văn hóa phi vật thể:

  • Quan điểm trưng bày nhất thời: Tiếp cận các vấn đề văn hóa đương đại, những khía cạnh xã hội và đời sống thường nhật của các nhóm xã hội khác nhau.
  • Trình diễn di sản văn hóa phi vật thể: Bảo tàng tổ chức không gian để nghệ nhân dân gian trực tiếp trình diễn nghề thủ công truyền thống (làm gốm, dệt thổ cẩm, đan lát, làm giấy dó, làm đồ chơi dân gian...) và nghệ thuật trình diễn (múa rối nước, dân ca quan họ, cồng chiêng Tây Nguyên...). Người dân đóng vai trò chủ thể giảng dạy, hướng dẫn công chúng trải nghiệm trực tiếp.
  • Dự án truyền thông cộng đồng (Photovoice và phim cộng đồng): Bảo tàng trang bị máy ảnh, máy quay phim và tập huấn kỹ năng cơ bản cho người dân địa phương (như nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số, người lao động di cư, người khuyết tật...). Người dân tự chụp ảnh, ghi lại cuộc sống của chính mình, tự chọn ảnh, viết chú thích và quyết định câu chuyện trưng bày. Cán bộ bảo tàng chuyển dịch hoàn toàn từ vị trí người giám sát sang người hỗ trợ kỹ thuật và hậu cần, hiện thực hóa cấp độ tham gia cao nhất (hỗ trợ cộng đồng tự chủ).

Chương 4: Giải pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng

Chương 4 tổng kết kết quả đánh giá thực tiễn từ phiếu khảo sát khách tham quan, phỏng vấn chuyên gia và cán bộ quản lý; phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng tại các bảo tàng địa phương ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Nhóm giải pháp về nhận thức và cơ chế quản lý: Chuyển đổi tư duy quản lý bảo tàng từ tiếp cận thuần túy hiện vật sang tiếp cận con người và văn hóa sống; xây dựng quy chế phối hợp và chia sẻ quyền lợi rõ ràng với cộng đồng tham gia.
  • Nhóm giải pháp về chuyên môn và quy trình thực hiện:
    • Nâng cao năng lực cho cán bộ bảo tàng về kỹ năng làm việc với cộng đồng, phương pháp điền dã nhân học, kỹ năng lắng nghe và điều phối.
    • Đổi mới quy trình xây dựng trưng bày: lồng ghép đánh giá nhu cầu cộng đồng ngay từ giai đoạn lập đề cương khoa học.
    • Mở rộng các phương thức trưng bày đa giác quan, kết hợp giữa hiện vật tĩnh với các hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể.
  • Nhóm giải pháp về đa dạng hóa nguồn lực và duy trì mạng lưới: Xây dựng mạng lưới cộng đồng cộng tác viên thường xuyên tại các địa phương; khai thác các nguồn tài trợ xã hội hóa và các dự án hợp tác quốc tế nhằm đảm bảo kinh phí bền vững cho các dự án cộng đồng tự chủ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xu hướng bảo tàng học mới với lý thuyết tham gia và lý thuyết trao quyền của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng tại Việt Nam.
  2. Xây dựng và chuẩn hóa mô hình 5 mức độ tham gia của cộng đồng (Thông tin $\rightarrow$ Tư vấn $\rightarrow$ Thực hiện cùng nhau $\rightarrow$ Quyết định cùng nhau $\rightarrow$ Bảo tàng hỗ trợ cộng đồng hoạt động độc lập), xác định các tiêu chí nhận diện cho từng mức độ trong thực hành trưng bày.
  3. Đưa ra nhận định lý luận mới: Không gian bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ và trưng bày kết quả nghiên cứu tĩnh, mà có thể trở thành thiết chế trung gian để thực hành, trao truyền và bảo tồn "di sản sống" trực tiếp thông qua chính các chủ thể văn hóa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Tổng kết và phân tích toàn diện thực tiễn 25 năm hoạt động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (1997-2022), chứng minh tính hiệu quả của phương thức hợp tác với cộng đồng qua các dự án cụ thể (Tòa Trống đồng, Vườn kiến trúc, Photovoice, trình diễn nghệ nhân).
  2. Mô tả rõ nét sự chuyển dịch vai trò của cán bộ bảo tàng từ người "độc quyền phán quyết và áp đặt chuyên môn" sang người "kết nối, đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật", chia sẻ quyền diễn giải di sản cho người dân.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi, cung cấp bài học kinh nghiệm thực tế để các bảo tàng lịch sử, xã hội và bảo tàng chuyên ngành tại Việt Nam tham khảo, ứng dụng vào công tác đổi mới trưng bày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án tập trung phân tích sâu trường hợp điển hình (case study) là Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - một bảo tàng quốc gia trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với những đặc thù thuận lợi về đội ngũ nghiên cứu và sự hỗ trợ quốc tế. Do đó, việc khảo sát thực địa tại các bảo tàng cấp tỉnh/địa phương còn mang tính điểm diện, chưa phản ánh hết những khó khăn đặc thù về cơ chế tài chính và nhân lực tại các bảo tàng địa phương.
  • Các khảo sát định lượng về cảm nhận của khách tham quan và cộng đồng chủ thể văn hóa được thực hiện giới hạn trong khuôn khổ một số sự kiện trưng bày và trình diễn cụ thể được chọn mẫu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu áp dụng mô hình 5 mức độ tham gia của cộng đồng vào hệ thống các bảo tàng khảo cổ, lịch sử, văn hóa nghệ thuật và bảo tàng tổng hợp cấp tỉnh tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tác động kinh tế - xã hội lâu dài đối với đời sống của các nhóm cộng đồng sau khi tham gia các dự án trưng bày tại bảo tàng.
  • Khảo sát việc ứng dụng công nghệ thông tin, bảo tàng số và truyền thông đa phương tiện trong việc thúc đẩy sự tham gia và trao quyền cho cộng đồng trong bối cảnh chuyển đổi số.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Thuộc các ngành Quản lý văn hóa, Bảo tàng học, Di sản học, Nhân học, Dân tộc học và Văn hóa học; cung cấp khung phân tích lý thuyết về sự tham gia và trao quyền trong hoạt động văn hóa.
  • Cán bộ quản lý và chuyên viên nghiệp vụ bảo tàng: Cung cấp quy trình, phương pháp tiếp cận cộng đồng nguồn, kỹ năng tổ chức trưng bày có sự tham gia, kỹ thuật phỏng vấn điền dã và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể tại bảo tàng.
  • Nhà hoạch định chính sách văn hóa: Tham khảo cơ sở thực tiễn để xây dựng các quy định, chính sách đãi ngộ nghệ nhân, bảo tồn di sản văn hóa dựa vào cộng đồng và định hướng đổi mới hoạt động hệ thống bảo tàng Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng thành những mức độ nào?

Theo văn bản luận án (Bảng 1.2), sự tham gia của cộng đồng được phân chia thành 5 mức độ tăng dần:

  1. Thông tin: Cộng đồng đóng góp hiện vật và cung cấp dữ liệu ban đầu cho dự án.
  2. Tư vấn: Cộng đồng được tham vấn ý kiến về nội dung trưng bày; cán bộ bảo tàng giữ quyền quyết định.
  3. Thực hiện cùng nhau: Thành lập nhóm phối hợp thi công; cộng đồng trực tiếp tham gia chế tác, xây dựng dưới sự điều phối chuyên môn.
  4. Quyết định cùng nhau: Cộng đồng tham gia vào quá trình phân tích, lập kế hoạch và đồng quyết định các vấn đề nội dung trưng bày.
  5. Bảo tàng hỗ trợ cộng đồng hoạt động độc lập: Cộng đồng chủ động hoàn toàn từ phát triển ý tưởng đến kiểm soát quá trình trưng bày; chuyên gia bảo tàng chỉ đóng vai trò tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật.

2. Mô hình "Vườn kiến trúc" tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc mức độ tham gia nào của cộng đồng?

Mô hình trưng bày ngoài trời "Vườn kiến trúc" thuộc mức độ tham gia thứ 3: "Thực hiện cùng nhau". Trong dự án này, bảo tàng mời chính các nhóm thợ thủ công, nghệ nhân bản địa của từng dân tộc (Chăm, Ba Na, Êđê, Gia Rai, Tày, Dao, H'mông, Hà Nhì, Kinh...) về khuôn viên bảo tàng để trực tiếp xây dựng, phục dựng và tu bổ các công trình kiến trúc dân gian theo đúng tri thức bản địa và nghi thức truyền thống.

3. Phương thức trưng bày truyền thống khác trưng bày có sự tham gia của cộng đồng ở những điểm căn bản nào?

Theo Bảng số 01 của luận án, sự khác biệt thể hiện qua 3 khía cạnh:

  • Nội dung: Trưng bày truyền thống dựa trên toàn bộ nền tảng kiến thức khoa học của chuyên gia; trưng bày có sự tham gia tập trung vào chủ đề, câu chuyện và trải nghiệm của người trong cuộc.
  • Hướng dẫn: Trưng bày truyền thống sử dụng phương pháp định sẵn một chiều của cán bộ; trưng bày có cộng đồng biến thành cuộc trò chuyện đa chiều giữa khách tham quan, cán bộ và cộng đồng.
  • Tính khách quan - chủ quan: Trưng bày truyền thống đưa ra câu trả lời chuẩn mực đóng khung; trưng bày có cộng đồng mở ra nhiều góc nhìn, khả năng tiếp cận và thảo luận đa chiều.

4. Dự án Photovoice tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thể hiện mức độ trao quyền cho cộng đồng như thế nào?

Dự án Photovoice (và phim cộng đồng) đại diện cho mức độ tham gia cao nhất (Bảo tàng hỗ trợ cộng đồng hoạt động độc lập). Người dân địa phương được bảo tàng trang bị phương tiện (máy ảnh, máy quay), tự quyết định chủ đề, tự ghi lại câu chuyện đời sống qua lăng kính của chính mình, tự biên tập chú thích và chọn ảnh trưng bày. Cán bộ bảo tàng chuyển hoàn toàn sang vai trò hỗ trợ hậu cần và tạo diễn đàn để tiếng nói của chủ thể văn hóa được truyền tải nguyên vẹn đến công chúng.

5. Sự chuyển dịch vai trò của cán bộ bảo tàng khi có cộng đồng tham gia được luận án mô tả ra sao?

Cán bộ bảo tàng chuyển đổi từ vai trò "người nắm giữ quyền lực tuyệt đối về chuyên môn, giám sát và áp đặt nội dung" sang vai trò "người điều phối, kết nối, hỗ trợ kỹ thuật và đồng hành". Quyền diễn giải hiện vật và câu chuyện văn hóa được chuyển dịch từng phần hoặc toàn phần cho cộng đồng chủ thể văn hóa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lý Thị Ngọc Dung là công trình nghiên cứu hệ thống về vai trò của cộng đồng trong hoạt động trưng bày bảo tàng dựa trên thực tiễn 25 năm của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Tác giả đã chuẩn hóa mô hình 5 mức độ tham gia và trao quyền cho cộng đồng, phân tích sự chuyển dịch từ trưng bày hiện vật tĩnh sang không gian văn hóa sống có sự đồng hành của chủ thể văn hóa. Công trình đóng góp cơ sở lý luận cho ngành bảo tàng học đương đại tại Việt Nam và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý khả thi nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản bền vững trong hệ thống bảo tàng.