mở đầu ở Mỹ như tại Đại học Nam California, Đại học Temple, Đại học New York (Ruby 2000: 23). Ở Nhật Bản, phim nhân hoc được giảng dạy thi điểm qua Đại học Hàng không và Viện Giáo dục đa phương tiện quốc gia (Sofue 1988: 158). Năm 1960 tại Úc, Viện Nghiên cứu thổ dân và dân cư quần đảo Torres Strait đã sử dụng phim và ảnh dé ghi hình lưu trữ lai văn hóa của các cư dân ban dia ở Úc. Đây là dau mốc hình thành và xây dựng phim nhân học tại Úc, các nhà làm phim ở viện này đã sản xuất nhiều bộ phim, hình ảnh có giá trị về cuộc sống của thổ dân châu Úc, mà đến nay những hình ảnh đó vẫn được sử dụng (Bryson: 2001).
Dân tộc học ở Liên xô có ảnh hưởng rõ nét đối với việc đào tạo và định hướng nghiên cứu dân tộc học ở các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1907, các hãng phim Drankov và Khanzhonkov ra đời, có chiều hướng sản xuất phim dân tộc học, là những thước phim mô tả các cuộc thám hiểm ở Sibera, vùng Viễn Đông và miền Bắc xa xôi của Đề quốc Nga. Lý thuyết làm phim của Dziga Vertov có ảnh hưởng nhiều đến các 14 nhà làm phim dân tộc học và nhân học trên thế giới, liên quan đến sự thật, kiếm chứng khách quan. Lý thuyết của Dziga Vertov đưa ra sáu giai đoạn: 1) Giai đoạn quan sát (Quan sát sự vật hiện tượng, tìm ý tưởng quay).
2) Giai đoạn sau quan sát (Sắp xếp khung hình, lên ý tưởng quay có định hướng trước sau). 3) Giai đoạn quay phim (Tiên hành quay phim đi theo logic sau khi quan sát, sắp xếp khung hình quay theo thứ tự trước sau). 4) Giai đoạn sau khi quay (Kiểm tra quay phim, định hướng kịch bản phù hợp với hình đã được quay và quay tiếp nếu bị bỏ sót). 5) Xem lại và đánh giá các đoạn phim đã quay (cẫu trúc nội dung phù hợp với các thước phim đã quay, ghép nháp các phim đã quay thành nội dung có ý nghĩa và hợp lý).
6) Giai đoạn kết thúc (Sắp xếp theo trật tự logic, đánh bật van dé trong tâm của phim, tận dụng các chi tiết nhỏ và tỉnh tế trong phim) (Brigard 1995: 29). Dau mốc nhân học hình ảnh ở Liên Xô phải kê đến năm 1987, nước Cộng hòa Enstonia và Châu Âu tổ chức liên hoan phim tài liệu có liên quan đến nhân học hình ảnh ở Parnu với sự quy tụ của nhiều nhà nhân học hình ảnh nồi tiếng thé giới đến từ châu Âu và Bắc Mỹ. Sau Liên hoan phim năm 1987, nhiều nhà nhân học Xô Viết bắt đầu đi theo xu hướng làm phim nhân học, Đại học Tổng hợp Lomonosov là nơi đầu tiên đưa nhân học hình ảnh vào trong giảng dạy bởi hai nhà nhân học hình ảnh Evgeny Alexandrov va Leonid Filimonov. Đây là thành quả của sự tiếp nhận kiến thức nhân học hình ảnh ở phương Tây, chuyền biến phù hợp với bối cảnh xã hội chủ nghĩa, nơi trường phái Xô — Viết có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân học ở Việt Nam (Nguyễn Trường Giang 2019b: 123).
Tháng 3 năm 2005, tại Vân Nam — Trung Quốc đã diễn ra một Liên hoan hình ảnh đa văn hóa ở Vân Nam 2005. Tại Liên hoan phim có 15 cuốn phim tài liệu, trong đó có phim về nhân học được chính chiếu tại liên hoan phim. Điều này khang định chỗ đứng của phim nhân học tại trung tâm văn hóa của Châu Á. Như vậy, có thé nói rằng phim nhân học trên thé giới được các nhà làm phim nhân học phân chia sự quan tâm phát triển như sau: - Những năm 1960s: Khai thác công nghệ, hình thành phim nhân học 15 - Những nam 1970s: Lam phim dựa vào quan sát, phản ánh chân thực và không lời bình.
- Những năm 1980s: Khai thác giọng nói, chủ thé và khách thé. - Những năm 1990s trở lại đây, làm phim nhân học về kinh nghiệm, giới thiệu văn hóa, mơ ước và định hướng phát triển (Levinson 1996: 411). Nhân học hình ảnh luôn được ủng hộ ở những xã hội có nên phát triển mạnh. Ở Mỹ, người ta thành lập Hội Nhân học hình ảnh (SVA) thuộc Hội Nhân học Mỹ.
Ở các nước khác, festival phim nhân học luôn được công chúng đón nhận như: Liên hoan phim Jean Rouch (Pháp), liên hoan phim dân tộc hoc Gottingen (Duc), liên hoan phim dân tộc học Freiburg (Đức), liên hoan phim Yunfes tại Vân Nam, Trung Quốc (Tran Văn Anh 2010: 10). Lịch sử nghiên cứu và phát triển phim nhân học ở Việt Nam 1. Điện anh du nhập Việt Nam chính thức là thuộc địa của Pháp từ ngày 6 thang 6 năm 1884 sau khi đại diện triều đình nhà Nguyễn và đại diện nước Pháp ký kết Hòa ước Giáp Thân. Nước Pháp là cái nôi của điện ảnh thế giới, nên họ đã sớm du nhập điện ảnh vào nước thuộc địa của mình như một hình thức “khai phá văn minh” cho người bản xứ.
Ngày 28 tháng 4 năm 1899, Gabriel Veyre (là học viên lớp làm phim của hai anh nhà Lumiere) đã tô chức buổi chiếu phim đầu tiên miễn phí tại Hà Nội cho công chúng vào xem. Như vậy là chỉ 4 năm sau khi điện ảnh ra đời, người Việt Nam đã thưởng thức phát minh kỳ diệu này, bộ môn nghệ thuật thứ 7 đã được du nhập vào Việt Nam. Năm 1916, Toàn quyền Đông Dương là Albert Saraut đã yêu cầu Bộ Chiến tranh Pháp cử một đoàn điện ảnh quân đội sang Việt Nam dé quay phim giới thiệu về cuộc sống, phong tục văn hóa, phong cảnh Việt Nam. Trong 2 năm, đoàn đã quay được 20 phim phóng sự và tài liệu, những thước phim này chủ yếu giới thiệu cho công chúng Pháp hình ảnh về thuộc dia của mình dé kêu gọi các nhà đầu tư, kinh doanh Pháp quan tâm đến việc khai thác thuộc địa (Sâm Thương: 2012).
Năm 1939 Việt Nam đã có trên 60 rạp chiếu bóng. Đáng chú ý, vào năm 1936, nhà tư sản Vạn Xuân đã bỏ tiền xây dựng rạp chiếu bóng Olimpia (nay là nhà hát 16 Hồng Hà ở phố Hang Da, Hà Nội) phục vụ nhu cầu thưởng thức bộ môn nghệ thuật mới của nhân dân. Từ buổi chiếu phim đầu tiên năm 1899 đến năm 1939, người Việt Nam đã làm quen và trở nên yêu thích đối với môn nghệ thuật mới mẻ này. Điều đó đã kích thích sự ra đời những bộ phim mới, nhiều thé loại từ phim tài liệu, phim truyện do người Việt Nam làm với câu chuyện riêng Việt.
Phim nhân học bước đầu du nhập vào Việt Nam. Từ thập niên 1970s của thế kỷ XX, xu hướng sử dụng các thiết bị nghe nhìn và các phương tiện kỹ thuật số bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đây cũng là khoảng thời gian chuyền đổi từ dân tộc học sang nhân học. Chính phủ và các ban ngành bắt đầu quan tâm đến việc lưu trữ các tư liệu bằng phương thức số hóa thông qua video, điển hình là việc đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo chuyên môn cho cán bộ làm phim được chú trọng, phim nhân học tạo được bước tiễn mới với sự hội nhập vào môi trường khoa học, điện ảnh của Việt Nam. Tuy nhiên, thời điểm hình thành ban đầu gần như chưa có một diễn đàn khoa học nào thảo luận về phim nhân học ở nước ta.
Tô Ngọc Thanh (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu lý luận và lịch sử nghệ thuật) và các cộng sự đã sử dụng máy quay phim nhựa 16mm ghi hình và trình chiếu hàng loạt phim về văn hóa các dân tộc thiểu số tại Việt Nam cho giới nghiên cứu văn hóa xem. Đó là các phim “Lễ ăn trâu của người Bana”, “Lễ cúng cơm mới của người Bana”, “Người Giẻ - Triêng ở Kon Tum”, “Lễ Ka Tê của người Chăm”,. Những thước phim đầu tiên này do chính GS. Tô Ngọc Thanh đọc lời dẫn câu chuyện, phim không có phỏng van, tự bạch, phụ đề.
Do điều kiện kỹ thuật bảo quản phim lúc bấy giờ hạn chế cho nên những thước phim tư liệu quý đó đã bị hỏng (Bùi Quang Thắng 2010b: 30). Phim nhân học ở Việt Nam có bước phát triển cho đến ngày hôm nay phải kế đến vai trò kích thích, sự hỗ trợ cả về mặt lý thuyết và thực hành của các quỹ nghiên cứu quốc tế, nhất là Quỹ Ford. Nhiều dự án quan trọng trong việc đào tạo cán cán bộ làm phim nhân học đáng kề đến như dự án đào tao phim nhân học do Quỹ Ford, Đại học Temple và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam cùng tô chức. Tại lớp học của dự án này, nhiêu cán bộ từ các viện nghiên cứu, bảo tàng được học hỏi và 17 thực hành những kiến thức về phim nhân học bằng các phương thức cơ bản nhất như phỏng van, quay hình, kỹ xảo hay biên tập dựng phim.
Kết thúc khóa học, các nhóm được thực hành làm phim trên bối cảnh văn hóa Việt Nam và thu được nhiều sản phẩm đặc sắc, nhằm ứng dụng và lưu trữ phim nhân học tại Việt Nam. BTDTHVN từ khi thành lập năm 1995 đã chú trọng việc ghi hình, lưu trữ và dựng phim nhân học, sau đó phim được đưa trực tiếp đến công chúng thông qua không gian trưng bày của bảo tàng. Năm 2001, Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, BTDTHVN và Viện Nghiên cứu Văn hóa đã tô chức một cuộc hội thảo có sự bình luận sôi nổi và tranh luận mạnh mẽ về phương pháp, cách thức làm phim dân tộc học, đồng thời đưa ra các vấn đề, hướng đi trong tương lai đối với phim dân tộc học tại Việt Nam thời gian này. Trong các năm 2003 — 2005, dưới sự khuyến khích và tài trợ của Quỹ Ford, BTDTHVN tổ chức hai sự kiện liên hoan phim dân tộc học/nhân học quốc tế.
Hai liên hoan phim cung cấp cơ sở lý luận, các van đề về mặt lý thuyết, phương pháp tiếp cận trong làm phim dân tộc học/nhân học, là một trong những diễn đàn thảo luận phim nhân học đầu tiên tại Việt Nam và có sự bàn luận sôi nổi từ các nhà làm phim nhân học quốc tế. Các báo cáo dé dẫn của liên hoan phim nhân học/dân tộc học lần thứ nhất 2003 và lần hai năm 2005 đã đúc kết lại các tham luận, chia sẻ, nội dung các phim được trình chiếu được đúc kết thông qua hai ban báo cáo van tắt. Đánh giá sự quan trọng và cấp thiết trong việc phát triển phim dân tộc học/nhân học tại Việt Nam, vào năm 2005, BTDTHVN đã xuất bản cuỗn Các công trình nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, số V.