Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đóng vai trò là vựa lúa trọng điểm quốc gia, dù chỉ chiếm 12,3% diện tích tự nhiên và 51,1% đất trồng lúa cả nước nhưng hàng năm cung cấp hơn 52,1% sản lượng lúa và đóng góp từ 80% đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Mặc dù khối lượng xuất khẩu liên tục gia tăng và ước tính chạm mốc kỷ lục 6 triệu tấn vào năm 2009, hạt gạo Việt Nam vẫn chịu mức giá xuất khẩu thuộc nhóm thấp trên thị trường quốc tế. Cụ thể, số liệu ghi nhận gạo 5% tấm của Việt Nam chỉ chào bán ở mức 400 USD/tấn, thấp hơn 100 USD/tấn so với mức 500 USD/tấn của Thái Lan và thấp hơn mức 415 USD/tấn của Pakistan; đối với phân khúc gạo 25% tấm, mức giá của Việt Nam cũng chênh lệch thấp hơn khoảng 70 USD/tấn so với gạo cùng loại của Thái Lan.

Vấn đề cốt lõi bắt nguồn từ việc quản lý chuỗi cung ứng lúa gạo chưa đồng bộ, thiếu liên kết ngang và liên kết dọc, cùng sự vắng bóng của các trung tâm giao dịch đầu mối quy mô chuẩn hóa. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng chuỗi giá trị lúa gạo, đánh giá hiệu quả của mô hình sản xuất theo hợp đồng và hoạt động tại các chợ trung tâm nông sản, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao vai trò của Chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt (thành phố Cần Thơ) với quy mô quy hoạch 22 ha và tổng vốn đầu tư 600 tỷ đồng theo Quyết định số 1308/QĐ-UBND. Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn các vùng lúa trọng điểm gồm Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ trong giai đoạn 2004-2009, mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng giá trị hạt gạo, nâng cao thu nhập cho nông dân và thiết lập sàn giao dịch nông sản hiện đại cho toàn vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng ba luồng lý thuyết nền tảng trong quản trị chuỗi cung ứng và kinh tế nông nghiệp:

Thứ nhất là phương pháp tiếp cận Filière (chuỗi ngành hàng), tập trung nghiên cứu dòng chuyển dịch vật chất, kỹ thuật và mối quan hệ chuyển đổi kinh tế giữa các tác nhân từ khâu sản xuất sơ cấp đến tiêu dùng cuối cùng.

Thứ hai là khung lý thuyết chuỗi giá trị và hệ thống giá trị của Michael Porter (1985), giúp nhận diện các hoạt động sơ cấp (hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra, tiếp thị, bán hàng) và hoạt động hỗ trợ (cơ sở hạ tầng, quản trị nhân lực, phát triển công nghệ, mua sắm) nhằm định vị nguồn lợi thế cạnh tranh chi phí thấp hoặc tạo sự khác biệt.

Thứ ba là phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky và Morris (2001) kết hợp mô hình của Gereffi (1994, 1999), nhằm phân tích cơ chế phân phối thu nhập và quyền lực giữa các thành phần kinh tế trong bối cảnh hội nhập thương mại quốc tế.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm: Chuỗi giá trị nông sản hiện đại theo cơ chế đôi bên cùng có lợi; Bốn phương thức giao dịch nông sản đặc thù (thị trường giao ngay, hợp đồng sản xuất, hợp đồng tiêu thụ qua sàn kỳ hạn, và hội nhập dọc); Khái niệm giá trị gia tăng và chính sách thúc đẩy liên kết tiêu thụ nông sản theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê giai đoạn 2004-2008, báo cáo định kỳ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Hiệp hội Lương thực Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Quyết định 232/QĐ-TTg, Quyết định 80/2002/QĐ-TTg.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 150 hộ nông dân trồng lúa, 30 thương lái thu gom, 20 chủ cơ sở xay xát và ban điều hành tại 3 chợ trung tâm nông sản thí điểm (Hậu Thạnh Đông - Long An, Phú Cường - Tiền Giang, Thanh Bình - Đồng Tháp). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý nhằm đảm bảo tính đại diện cho từng mắt xích trong chuỗi.

Phương pháp phân tích kinh tế chuỗi giá trị (Value Added Analysis) kết hợp ma trận SWOT và phân tích lợi thế cạnh tranh được lựa chọn nhằm bóc tách cấu trúc chi phí, tính toán giá trị gia tăng ở từng công đoạn chế biến. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2008 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng chuỗi giá trị lúa gạo vụ Đông Xuân 2009 tại khu vực nghiên cứu chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, phân bổ giá trị gia tăng giữa các tác nhân còn nhiều bất cập. Nông dân sản xuất với chi phí bình quân 2.156 đồng/kg đối với lúa thường và 2.524 đồng/kg đối với lúa thơm Jasmine, đạt tỷ lệ lãi từ 23,4% đến 23,9% trên doanh thu (tương đương thu nhập khoảng 13 đến 14 triệu đồng/hộ/năm cho quy mô bình quân 0,5 ha đất). Trong khi đó, thương lái thu gom bán lại cho doanh nghiệp chế biến với mức chênh lệch giá trị từ 1.350 đồng/kg (lúa thường) đến 1.720 đồng/kg (lúa Jasmine), mang lại biên lợi nhuận ròng từ 215 đến 220 đồng/kg gạo nguyên liệu. Doanh nghiệp xuất khẩu ghi nhận mức lợi nhuận từ 557 đến 598 đồng/kg sau khi cộng chi phí chế biến từ 500 đến 1.220 đồng/kg.

Thứ hai, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch ở mức cao, dao động từ 11% đến 12% tổng sản lượng (vụ Hè Thu thất thoát cao nhất lên tới 14%, vụ Thu Đông 10%, vụ Đông Xuân 9%). Các khâu hao hụt chính gồm: cắt bó 2,87%, xay xát 2,47%, làm khô 2,42%, bảo quản tồn trữ 2,1%, và tuốt lúa 1,9%. Nếu người sản xuất kiểm soát tốt công nghệ sấy và trữ ẩm độ dưới 14%, giá trị hạt lúa có thể tăng thêm từ 4,8% đến 5,5%.

Thứ ba, mô hình 3 chợ trung tâm nông sản thí điểm chưa phát huy tối đa công năng kết nối trực tiếp với nông dân. Sản lượng giao dịch hàng năm đạt khoảng 40.000 tấn tại chợ Hậu Thạnh Đông, 48.000 tấn tại chợ Phú Cường và 70.000 tấn tại chợ Thanh Bình. Tuy nhiên, hơn 90% đến 94% khối lượng giao dịch là gạo nguyên liệu do thương lái cung cấp, tỷ lệ nông dân trực tiếp đến bán lúa chỉ chiếm dưới 10% đến 20% do năng lực máy sấy và xay xát của chợ chỉ đạt công suất khiêm tốn 5 tấn/giờ.

Thứ tư, kênh tiêu thụ nội địa chính ngạch của các doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm từ 5% đến 8% tổng lượng bán ra do phải chịu mức thuế giá trị gia tăng 5% không được khấu trừ, khó cạnh tranh với mạng lưới bán lẻ tư nhân chỉ chịu thuế khoán khoảng 500.000 đồng/tháng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân bổ lợi ích cho thấy chuỗi giá trị lúa gạo truyền thống vận hành theo cơ chế cạnh tranh ép giá, khiến người nông dân chịu nhiều thiệt thòi nhất dù gánh chịu toàn bộ rủi ro thiên tai và dịch bệnh. Khoảng 97% hộ nông dân có diện tích canh tác nhỏ dưới 5 ha, thiếu vốn và phương tiện vận chuyển nên phải phụ thuộc hoàn toàn vào mạng lưới thương lái thu mua tại bờ ruộng.

Dữ liệu chuỗi giá trị được mô phỏng chi tiết thông qua các bảng phân tích cấu trúc chi phí và biểu đồ so sánh lợi ích giữa chuỗi tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Khi so sánh với mô hình tổ chức nông hội và sàn đấu giá nông sản tại Thái Lan, Đồng bằng sông Cửu Long đang thiếu hụt hạ tầng kho bãi quy mô lớn và hệ sinh thái tài chính hỗ trợ thế chấp nông sản. Việc thiếu vắng sàn giao dịch chuẩn hóa khiến giao dịch giao ngay chiếm ưu thế tuyệt đối, trong khi các hình thức hợp đồng kỳ hạn hay hợp đồng quyền chọn nhằm bảo hiểm rủi ro giá chưa thể hình thành.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, năm nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao vai trò của Chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt:

Thứ nhất, hoàn thiện quy chế tổ chức và chuyển đổi mô hình hoạt động của Chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt thành Sàn giao dịch hàng hóa nông sản hiện đại. Tổng Công ty Lương thực Miền Nam chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ban hành quy chế giao dịch minh bạch, hình thành các phương thức đấu giá công khai và hợp đồng kỳ hạn trong lộ trình 2009-2011.

Thứ hai, phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ sau thu hoạch đồng bộ với tổng vốn đầu tư 600 tỷ đồng trên diện tích 22 ha. Trọng tâm là xây dựng cụm kho lưu trữ lúa cho nông dân ký gửi diện tích 39.500 m2, kho gạo thành phẩm 11.900 m2, kho vật tư nông nghiệp 8.700 m2 cùng hệ thống sấy công nghiệp công suất lớn, nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch toàn chuỗi từ 12% xuống dưới 7% vào năm 2012.

Thứ ba, thiết lập Trung tâm thông tin thị trường, tư vấn kỹ thuật và đào tạo nhân lực điều hành sàn giao dịch. Phối hợp cùng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Trường Đại học Cần Thơ cung cấp thông tin giá cả hàng ngày, hướng dẫn nông dân canh tác theo tiêu chuẩn Global GAP và nâng tỷ lệ ký hợp đồng tiêu thụ theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg đạt mức 30% đến 50% sản lượng.

Thứ tư, tái tổ chức mạng lưới trung gian thương lái và liên kết tín dụng ngân hàng. Triển khai dịch vụ cấp chứng chỉ lưu kho cho nông dân gửi lúa tại chợ làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng với hạn mức 70% giá trị lô hàng, hỗ trợ thương lái chuyển đổi thành đại lý ủy thác thu gom đạt chuẩn.

Thứ năm, kiến nghị Bộ Tài chính và Chính phủ điều chỉnh chính sách thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng gạo tiêu thụ nội địa của doanh nghiệp chế biến, tạo điều kiện mở rộng thị phần bán lẻ chính ngạch lên mức 15% đến 20% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thể sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để hoàn thiện quy hoạch mạng lưới chợ đầu mối nông sản và ban hành chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất theo hợp đồng.

Doanh nghiệp lương thực và Ban điều hành chợ chuyên doanh: Ban quản trị Tổng Công ty Lương thực Miền Nam và các đơn vị thành viên có thể ứng dụng trực tiếp mô hình tổ chức sàn giao dịch, phương án vận hành kho bãi quy mô 600 tỷ đồng và chiến lược quản trị rủi ro giá.

Hợp tác xã nông nghiệp và đại diện mạng lưới thương lái: Giúp các ban chủ nhiệm hợp tác xã nắm rõ cơ chế ký gửi lúa, quy chuẩn chất lượng gạo xuất khẩu và cách thức tiếp cận nguồn vốn tín dụng thông qua chứng chỉ kho bãi.

Giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu kinh tế: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp phân tích chuỗi giá trị nông sản, cấu trúc thị trường lúa gạo và mô hình kinh tế nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao giá gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 lại thấp hơn gạo Thái Lan từ 70 đến 100 USD/tấn? Nguyên nhân chủ yếu do chất lượng đầu vào không đồng nhất, khâu bảo quản sau thu hoạch yếu kém và việc thương lái trộn lẫn nhiều giống lúa khi thu gom. Gạo 5% tấm của Việt Nam chỉ đạt mức 400 USD/tấn so với mức 500 USD/tấn của Thái Lan do thiếu thương hiệu quốc gia và quy trình truy xuất nguồn gốc chưa hoàn thiện.

Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch tác động như thế nào đến giá trị hạt lúa? Tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long chiếm từ 11% đến 12% sản lượng, đặc biệt khâu làm khô chiếm 2,42% và xay xát chiếm 2,47%. Việc thất thoát này làm giảm trực tiếp từ 1,5 đến 2 triệu đồng lợi nhuận trên mỗi héc-ta của nông dân do giảm tỷ lệ thu hồi gạo nguyên.

Vì sao ba chợ trung tâm nông sản thí điểm tại Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp chưa thu hút được nhiều nông dân? Do công suất thiết bị chế biến của mỗi chợ chỉ đạt 5 tấn/giờ và mức vốn đầu tư ban đầu từ 14,9 đến 31,6 tỷ đồng chưa đủ lớn để bao tiêu diện rộng. Nông dân thiếu phương tiện vận chuyển đường thủy xa nên hơn 90% sản lượng giao dịch tại chợ vẫn phải thông qua thương lái trung gian.

Dự án Chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt có điểm gì khác biệt so với các mô hình trước đây? Chợ Thốt Nốt được quy hoạch quy mô vùng với diện tích 22 ha và tổng vốn đầu tư 600 tỷ đồng, tích hợp hệ thống kho lúa 39.500 m2, kho thành phẩm 11.900 m2 và sàn giao dịch hiện đại, khắc phục hoàn toàn tình trạng manh mún của các chợ thí điểm trước đó.

Hợp đồng tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg gặp trở ngại lớn nhất ở điểm nào? Trở ngại lớn nhất là thiếu cơ chế tài chính bảo hiểm giá và chế tài pháp lý ràng buộc giữa doanh nghiệp với 97% hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ. Khi giá thị trường biến động trên 20%, hiện tượng phá vỡ cam kết hợp đồng từ cả hai phía thường xuyên xảy ra.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện các đóng góp khoa học và thực tiễn nổi bật:

  • Hệ thống hóa khung lý thuyết toàn diện về chuỗi giá trị và phân loại bốn phương thức giao dịch nông sản hiện đại.
  • Định lượng chi tiết giá trị gia tăng của chuỗi lúa gạo thường và gạo thơm Jasmine vụ Đông Xuân 2009 tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Làm rõ nguyên nhân khiến các chợ trung tâm thí điểm chỉ thu hút dưới 20% lượng giao dịch trực tiếp từ người nông dân.
  • Khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng Chợ chuyên doanh lúa gạo Thốt Nốt quy mô 22 ha, vốn đầu tư 600 tỷ đồng nhằm kéo giảm tỷ lệ hao hụt 11% đến 12%.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp liên kết bốn nhà và đổi mới chính sách thuế nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan ban ngành hoàn thiện việc thi công dự án Chợ Thốt Nốt đến hết năm 2011 và đưa sàn giao dịch vào vận hành chính thức trong năm 2012. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn bộ số liệu và mô hình phân tích chi tiết trong công trình luận văn thạc sĩ kinh tế này để ứng dụng vào thực tiễn quản lý chuỗi cung ứng nông sản.