Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới kể từ năm 1986 cho thấy sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội phát triển mạnh mẽ. Theo dữ liệu từ Khảo sát Giá trị Thế giới, khoảng 73,5% công dân Việt Nam tham gia vào ít nhất một tổ chức đoàn thể, hiệp hội và 61,8% là thành viên của các tổ chức xã hội dân sự. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã làm bộc lộ nhiều khiếm khuyết như phân hóa giàu nghèo, suy thoái môi trường và các xung đột lợi ích kinh tế, trong khi bộ máy nhà nước không thể bao quát toàn bộ mọi nhu cầu an sinh công cộng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ vai trò, vị trí và phương thức tác động của các tổ chức xã hội dân sự trong việc cân bằng mối quan hệ tương tác giữa Nhà nước và Kinh tế thị trường. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa các quan điểm triết học, kinh tế chính trị về xã hội dân sự; phân tích các chức năng bảo vệ quyền lợi nhân dân, cung ứng dịch vụ công, phản biện xã hội và tự điều tiết kinh tế; từ đó đánh giá thực trạng tại Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2017 và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian thể chế tại Việt Nam với các mốc thời gian từ giai đoạn bắt đầu Đổi mới năm 1986 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm tối ưu hóa quản trị công, giúp giảm tải khoảng 25% đến 30% áp lực ngân sách nhà nước trong cung ứng dịch vụ công cơ bản và nâng cao tính minh bạch thể chế lên mức vượt trội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận triết học và kinh tế chính trị đa chiều để giải quyết vấn đề nghiên cứu:

Thứ nhất, lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong đó, xã hội dân sự xuất phát từ cơ sở kinh tế, là nền tảng quy định sự ra đời và tính chất của nhà nước, đồng thời nhà nước sử dụng pháp luật để định hình và quản lý xã hội dân sự.

Thứ hai, lý thuyết Khế ước xã hội của Thomas Hobbes, John Locke và Jean-Jacques Rousseau, khẳng định xã hội dân sự là kết quả của sự đồng thuận ủy quyền quyền lực từ nhân dân sang nhà nước nhằm bảo vệ quyền tự do, tài sản và sự an toàn cá nhân.

Thứ ba, triết học pháp quyền của Georg Wilhelm Friedrich Hegel về đời sống đạo đức gồm ba nấc thang: gia đình, xã hội dân sự và nhà nước. Hegel chỉ rõ xã hội dân sự là không gian con người theo đuổi lợi ích vật chất cá nhân thông qua thị trường, nhưng cần sự thống nhất lý tính từ nhà nước.

Thứ tư, các học thuyết kinh tế học hiện đại về vai trò của nhà nước bao gồm thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith, thuyết can thiệp vĩ mô của John Maynard Keynes và mô hình Kinh tế thị trường xã hội. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Tổ chức xã hội dân sự, Kinh tế thị trường hiện đại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Giám sát và phản biện xã hội, và Chuyển giao dịch vụ công.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 120 công trình nghiên cứu khoa học, văn kiện pháp lý của Đảng và Nhà nước, báo cáo tổng kết của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Viện những vấn đề Phát triển (VIDS), cùng số liệu từ bộ cơ sở dữ liệu Khảo sát Giá trị Thế giới tại Việt Nam với quy mô cỡ mẫu 1.200 quan sát. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo vùng miền và ngành nghề đã bảo đảm tính đại diện cao cho các tầng lớp xã hội.

Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, so sánh đối chiếu và trừu tượng hóa khoa học dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, hệ thống và toàn diện khi phân tích các quan hệ kinh tế - chính trị phức tạp giữa ba khu vực: Nhà nước, Thị trường và Xã hội dân sự trong suốt tiến trình lịch sử 31 năm từ năm 1986 đến năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, các tổ chức xã hội dân sự đóng vai trò là trụ cột đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và doanh nghiệp trước tác động tự phát của thị trường. Điển hình như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bảo vệ thành công hơn 80% lợi ích của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trong các vụ kiện chống bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ, hỗ trợ tư vấn pháp lý cho hàng nghìn hội viên.

Thứ hai, việc xã hội hóa và chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội dân sự giúp tiết kiệm khoảng 20% đến 30% chi phí quản lý công và giảm tải trực tiếp cho bộ máy hành chính nhà nước. Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội ngành nghề đã tham gia giải quyết hiệu quả trên 40% các chương trình hỗ trợ sinh kế, phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục kỹ năng tại các vùng sâu, vùng xa.

Thứ ba, chức năng giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức xã hội ngày càng mở rộng và đạt hiệu quả thực tế cao. Đơn cử, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tham gia đóng góp ý kiến chuyên môn sâu cho hơn 60% dự thảo luật và các quy hoạch kinh tế - xã hội trọng điểm quốc gia, góp phần phòng ngừa thất thoát nguồn lực công và ngăn chặn các nguy cơ tàn phá môi trường sinh thái.

Thứ tư, các hiệp hội tự quản đã thực hiện tốt chức năng tự điều tiết hành vi kinh doanh nội bộ, giảm thiểu hơn 35% các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và gian lận thương mại nhờ xây dựng các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và quy chế phối hợp giữa các doanh nghiệp thành viên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các kết quả trên bắt nguồn từ tính hai mặt của kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường tạo động lực tối đa hóa lợi nhuận nhưng lại thiếu vắng cơ chế tự bảo vệ các giá trị nhân văn và môi trường; trong khi đó, sự can thiệp hành chính của nhà nước thường có độ trễ hoặc xơ cứng. Các tổ chức xã hội dân sự xuất hiện như một cơ chế tự điều chỉnh mềm dẻo, lấp đầy khoảng trống mà cả thị trường lẫn nhà nước không với tới.

So với các mô hình quản trị tại các nước tư bản phát triển nơi các tổ chức dân sự thường đóng vai trò đối lập hoặc cạnh tranh quyền lực với chính quyền, tại Việt Nam, các tổ chức xã hội dân sự vận hành theo mô hình đồng thuận xã hội, phối hợp chặt chẽ với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Về mặt trực quan hóa, toàn bộ cấu trúc 9 nhóm tổ chức xã hội theo phân loại của ADB và 7 khối tổ chức thực tế tại Việt Nam theo VIDS (gồm Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể quần chúng, hội nghề nghiệp, NGO trong nước, tổ chức tín ngưỡng...) có thể được mô tả sinh động qua biểu đồ hình quạt về tỷ trọng thành viên tham gia và bảng phân tích ma trận chức năng can thiệp theo 3 trục: Nhà nước - Doanh nghiệp - Người dân.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ thể chế pháp lý: Quốc hội và Chính phủ cần nghiên cứu ban hành Luật về Hội trước năm 2028 nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, rõ ràng, giúp tăng tỷ lệ các tổ chức tự nguyện đăng ký hoạt động hợp pháp lên mức 20% mỗi năm, loại bỏ các thủ tục hành chính rườm rà. Chủ thể thực hiện là Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Tư pháp.

Thứ hai, mở rộng cơ chế đặt hàng và chuyển giao dịch vụ công: Phấn đấu chuyển giao tối thiểu 30% các dịch vụ công ích, đào tạo nghề nghiệp, kiểm định kỹ thuật và hoạt động từ thiện xã hội sang cho các hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ đảm nhận trong lộ trình 2026 - 2030. Chủ thể thực hiện là các Bộ, ngành chuyên môn và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố.

Thứ ba, thể chế hóa quy trình giám sát và phản biện xã hội: Ban hành văn bản pháp quy quy định bắt buộc phải lấy ý kiến phản biện độc lập của các tổ chức chuyên môn thuộc VUSTA, VCCI đối với 100% dự án phát triển kinh tế có nguy cơ tác động môi trường lớn trước năm 2027. Chủ thể chủ trì là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan chủ trì soạn thảo chính sách.

Thứ tư, nâng cao năng lực tự chủ và tính minh bạch tài chính của các tổ chức xã hội: Các tổ chức dân sự cần chủ động đa dạng hóa nguồn tài chính thông qua việc cung ứng dịch vụ có thu phí phi lợi nhuận, giảm tỷ lệ phụ thuộc vào các nguồn viện trợ nước ngoài xuống dưới mức 40% vào năm 2030. Chủ thể thực hiện là ban điều hành các tổ chức xã hội dân sự và hiệp hội ngành nghề.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản trị công: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học vững chắc để các nhà làm luật hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về hội, xây dựng quy trình chuyển giao dịch vụ công và cơ chế đối thoại công - tư hiệu quả.

Nhóm thứ hai, lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội nghề nghiệp và đoàn thể quần chúng: Cung cấp phương pháp luận và các bài học kinh nghiệm thực tiễn để củng cố năng lực vận động chính sách, mở rộng mạng lưới hội viên và nâng cao chất lượng phản biện xã hội.

Nhóm thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Xã hội học, Luật học, Kinh tế chính trị: Tài liệu là công trình tham khảo giá trị về sự vận dụng triết học Mác - Lênin, triết học phương Tây và lý thuyết quản trị hiện đại vào thực tiễn Việt Nam.

Nhóm thứ tư, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và hiệp hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Giúp doanh nghiệp hiểu rõ vai trò của các thiết chế hiệp hội trong việc điều tiết tranh chấp thương mại quốc tế, thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và bảo vệ thương hiệu bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam có đối lập với Nhà nước pháp quyền hay không? Không. Luận văn chứng minh theo quan điểm Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng, xã hội dân sự là cơ sở xã hội của Nhà nước. Mối quan hệ giữa hai bên tại Việt Nam mang tính đồng thuận, hợp tác cùng phát triển nhằm bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng chứ không mang tính đối kháng chính trị.

Tại sao kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự? Thị trường vốn tồn tại những khuyết tật nội tại như cạnh tranh độc quyền, bất bình đẳng xã hội và ô nhiễm môi trường. Sự tham gia của các tổ chức xã hội giúp cân bằng lợi ích các bên, bảo vệ người yếu thế và giảm thiểu thất bại thị trường mà nhà nước chưa thể giải quyết triệt để.

Tỷ lệ người dân Việt Nam tham gia vào các tổ chức xã hội là bao nhiêu? Theo kết quả Khảo sát Giá trị Thế giới được phân tích trong công trình, có tới 73,5% công dân Việt Nam là thành viên của ít nhất một tổ chức xã hội và 61,8% tham gia vào các tổ chức xã hội dân sự chuyên biệt, phản ánh nền tảng tham gia xã hội rất rộng rãi.

Các hình thức chuyển giao dịch vụ công cho tổ chức xã hội gồm những gì? Có 4 hình thức chính được luận văn hệ thống hóa: nhà nước khoán việc theo thỏa thuận, đấu thầu cung ứng dịch vụ, chuyển nhượng quyền thực hiện dịch vụ công, và nhà nước đặt hàng mua dịch vụ từ các tổ chức xã hội phi lợi nhuận.

Ý nghĩa thực tiễn nổi bật nhất của luận văn là gì? Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận triết học và thực tiễn để định vị chính xác vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, tạo tiền đề để hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện các quan điểm triết học Mác - Lênin, Hegel, các nhà Khai sáng và kinh tế học hiện đại về vai trò của Nhà nước, Kinh tế thị trường và Xã hội dân sự.
  • Khẳng định tính tất yếu khách quan của các tổ chức xã hội dân sự trong việc khắc phục thất bại thị trường và giảm tải áp lực quản trị hành chính công.
  • Phân tích thực chứng bức tranh xã hội dân sự Việt Nam qua 31 năm Đổi mới với 73,5% tỷ lệ tham gia của người dân trong các tổ chức đoàn thể.
  • Làm rõ ba vai trò trung tâm: bảo vệ quyền lợi người dân, cung ứng dịch vụ công / phản biện chính sách, và tự điều tiết nội bộ các hoạt động kinh tế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, ban hành Luật về Hội trước năm 2028 và nâng cao năng lực tự chủ của các tổ chức xã hội.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cái nhìn khoa học, khách quan và hệ thống về sự hài hòa giữa ba trụ cột Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự tại Việt Nam. Trong lộ trình phát triển giai đoạn 2026 - 2030, việc tiếp tục mở rộng nghiên cứu thực chứng và triển khai các khuyến nghị chính sách của luận văn sẽ là bước đi thiết thực để xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác toàn diện nội dung luận văn nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách xã hội hiệu quả.