Tổng quan luận án

Công trình “Vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 tới nay” là luận án tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế (mã số: 9310206), do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Thành thực hiện tại Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Võ Kim Cương và GS. Nguyễn Thái Yên Hương, bảo vệ năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, công tác đối ngoại là một bộ phận trên mặt trận ngoại giao, đóng vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định báo chí là công cụ đấu tranh dư luận, thông tin về tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến, xác lập hình ảnh đất nước và truyền tải đường lối, chính sách trong thời kỳ đổi mới.

Theo báo cáo tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 16-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020” và Chỉ thị số 26-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) tổ chức tháng 8/2017, công tác thông tin đối ngoại đã đạt được nhiều kết quả về tổ chức bộ máy, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và mở rộng nội dung, phương thức tuyên truyền. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn bộc lộ một số hạn chế: nhận thức về thông tin đối ngoại chưa đồng đều; công tác theo dõi, dự báo tình hình có lúc chưa kịp thời; dung lượng thông tin còn mỏng; hình thức tuyên truyền chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng; việc khai thác công nghệ truyền thông hiện đại chưa đạt hiệu quả tối ưu.

Báo Nhân dân là đơn vị sự nghiệp Trung ương của Đảng, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Mặc dù Báo Nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống báo chí đối ngoại, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận lịch sử hình thành hoặc nghiệp vụ báo chí nói chung, chưa có công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện và có hệ thống về vai trò của Báo Nhân dân trong việc thực hiện công tác đối ngoại từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới (1986) đến năm 2020. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà tác giả lựa chọn giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích vai trò của Báo Nhân dân trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2020 dưới góc độ thông tin đối ngoại; qua đó khẳng định vị trí của báo chí Việt Nam nói chung và Báo Nhân dân nói riêng trên mặt trận đối ngoại.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vai trò của báo chí nói chung và Báo Nhân dân nói riêng đối với công tác đối ngoại.
  2. Đi sâu phân tích việc Báo Nhân dân triển khai thực hiện chính sách đối ngoại thông qua hoạt động thông tin đối ngoại qua ba giai đoạn lịch sử: 1986–1995 (phá thế bao vây, cấm vận), 1996–2011 (triển khai hội nhập quốc tế) và 2011–2020 (hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện).
  3. Đánh giá ưu điểm, hạn chế trong hoạt động của Báo Nhân dân và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong bối cảnh mới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Báo Nhân dân trong công tác thông tin đối ngoại của Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận Báo Nhân dân với tư cách là công cụ truyền tải đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ra thế giới và chuyển tải thông tin quốc tế liên quan đến Việt Nam vào trong nước. Về ấn phẩm, tác giả giới hạn khảo sát trên hai loại hình chính: Báo Nhân dân hằng ngày (báo in) và Báo Nhân dân điện tử (bao gồm các thứ tiếng: Việt, Anh, Trung Quốc, Pháp, Nga, Tây Ban Nha); không đi sâu vào các ấn phẩm phụ (Nhân dân cuối tuần, Nhân dân hằng tháng, Thời Nay) hay kênh Truyền hình Nhân dân, đồng thời không đi sâu vào chiều kích báo chí tác động ngược trở lại quy trình hoạch định chính sách đối ngoại.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2020, được chia thành ba giai đoạn: 1986–1995, 1996–2011 và 2011–2020.
  • Phạm vi không gian: Không gian triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam và các địa bàn tiếp nhận thông tin đối ngoại ở khu vực và trên thế giới, bao gồm cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận một khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nhóm công trình về ngoại giao và chính sách đối ngoại Việt Nam:

    • 50 năm Ngoại giao Việt Nam (1945-1995) của Lưu Văn Lợi: Cung cấp tư liệu lịch sử ngoại giao dựa trên lời kể và ghi chép của các nhân chứng trực tiếp tham gia đàm phán và hoạch định chính sách.
    • Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 của Học viện Ngoại giao (2002): Khái quát đặc điểm, tính chất, thành tựu của ngoại giao hiện đại trong bối cảnh quốc tế.
    • Ngoại giao Việt Nam hiện đại - Vì sự nghiệp giành độc lập tự do (1945-1975) do Nguyễn Phúc Luân chủ biên (2001) và Ngoại giao Việt Nam vì sự nghiệp đổi mới, 1975-2002 do Vũ Dương Huân chủ biên (2002): Phân tích bước chuyển trong quan hệ đối ngoại với các nước lớn và chỉ ra nhiệm vụ đối ngoại qua từng thời kỳ.
    • Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới do Phí Như Chanh, Phạm Văn Linh, Phạm Xuân Thâu đồng chủ biên (2005): Khảo sát sự phát triển quan hệ song phương và đa phương theo phương châm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.
    • Ngoại giao Việt Nam phương sách và nghệ thuật đàm phán của Nguyễn Khắc Huỳnh (2006): Phân tích nghệ thuật ngoại giao trong 30 năm chiến tranh giải phóng.
    • Các công trình chuyên sâu về tư duy đối ngoại và quan hệ quốc tế của Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Văn Du, Vũ Dương Ninh, Nguyễn Thị Mai Hoa, Nguyễn Vũ Tùng (Khuôn khổ quan hệ đối tác, 2007), Phạm Bình Minh (Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020, 2010), Đinh Xuân Lý (2013), và Nguyễn Dy Niên (Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, 2002).
  2. Nhóm công trình về báo chí và vai trò báo chí đối ngoại:

    • Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (1925-2010) (Nxb. Chính trị Quốc gia, 2010) và Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam (Nxb. Khoa học xã hội, 2015): Hệ thống hóa chặng đường phát triển và quy hoạch báo chí.
    • Đề tài cấp quốc gia của Nguyễn Đức Lợi: Thông tin báo chí với công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế.
    • Lê Thanh Bình với Báo chí truyền thông và kinh tế, văn hóa, xã hội (2005) và Báo chí và thông tin đối ngoại: Phân tích việc sử dụng các thể loại báo chí trong truyền thông quốc tế, khảo sát điển hình Báo Thế giới & Việt Nam.
    • Dương Xuân Sơn với Báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay) (2013); Đỗ Chí Nghĩa với luận án tiến sĩ về vai trò của báo chí trong việc định hướng dư luận xã hội (2009); Trương Minh Tuấn và Nguyễn Thị Thu Hà với nghiên cứu về báo chí đối ngoại trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.
  3. Nhóm công trình chuyên biệt về Báo Nhân dân:

    • Các tài liệu lịch sử nội bộ: Sơ thảo lịch sử 50 năm báo Nhân dân (1951-2001), Sơ thảo lịch sử 60 năm báo Nhân dân (1951-2011), Những người làm báo Nhân dân (1951-2011).
    • Hồi ký nghề nghiệp: Nhớ một thời làm báo Nhân dân do Hữu Thọ chủ biên (1996) và tập hồi ký thứ hai do Đinh Thế Huynh chỉ đạo nội dung (2011).
    • Luận án của Nguyễn Bá Sinh (2011) về tính hấp dẫn của báo Đảng; luận án của Nguyễn Thị Hảo về Báo Nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965-1975).
    • Các đề tài nghiên cứu nghiệp vụ nội bộ của Báo Nhân dân từ năm 2000 đến 2020 về tuyên truyền xây dựng Đảng, tái cơ cấu kinh tế, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình", và tăng cường công tác thông tin đối ngoại.

Các nghiên cứu nước ngoài

  • Daya Kishan Thussu (International communication: Continuity and change): Phân tích truyền thông quốc tế từ góc độ kinh tế - chính trị và sự bất bình đẳng dòng chảy thông tin giữa các nước phát triển và đang phát triển.
  • Doris Graber (Media Power in Politics, 1993): Đánh giá 6 kênh tác động của truyền thông đối với chương trình nghị sự chính trị, dư luận và chính sách công.
  • Philip Taylor (Global communications, international affairs and the media since 1945, 2003): Phân tích tương tác giữa truyền thông và chính sách đối ngoại qua các tình huống thực tiễn như Chiến tranh vùng Vịnh (1990) và Chiến tranh Việt Nam.
  • Steven Foster (Political communication, 2010), Sigrid Koch-Baumgarten & Katrin Voltmer (Public policy and the mass media, 2010), Majid Tehranian (Global communication and international relations), Hamid Mowlana (Global information and world communication: New frontier in international relations, 2013): Khảo sát sự dịch chuyển của cấu trúc chính trị quốc tế và quá trình hoạch định chính sách dưới tác động của truyền thông toàn cầu.
  • Carlyle A. Thayer và Ramses Amer (Vietnamese foreign policy in transition, 1999): Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thập niên 1990.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình đối ngoại thường chỉ đề cập chung đến công cụ báo chí; các công trình báo chí thường khảo sát diện rộng hoặc tập trung vào một ấn phẩm khác (như Báo Thế giới & Việt Nam), hoặc khảo sát Báo Nhân dân ở mảng nội chính và lịch sử chiến tranh. Luận án của Nguyễn Trung Thành là công trình nghiên cứu liên ngành chuyên sâu đầu tiên khảo sát hoạt động thông tin đối ngoại của Báo Nhân dân một cách xuyên suốt trong 35 năm Đổi mới (1986–2020), làm rõ cả cơ sở lý luận chỉ đạo, thực tiễn triển khai và định hướng giải pháp phát triển.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và lý thuyết

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm nền tảng:

  • Báo chí: Phân tích sự phát triển của định nghĩa báo chí trong Luật Báo chí năm 1989, Luật Báo chí sửa đổi năm 1999 (Điều 3) và Luật Báo chí năm 2016 (Điều 3 quy định báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề xã hội bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, xuất bản định kỳ qua báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử). Luận án cũng tiếp cận các khái niệm truyền thông của Philippe Breton, Serge Proulx, và Trần Hữu Quang.
  • Đối ngoại và Thông tin đối ngoại: Đối ngoại là sự kéo dài của chính sách đối nội, nhằm tạo lập môi trường hòa bình và thu hút nguồn lực. Thông tin đối ngoại được định vị ở hai góc độ: (1) là bộ phận của công tác tư tưởng - văn hóa nhằm vận động, tranh thủ dư luận quốc tế; (2) là bộ phận của công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, được quy định cụ thể tại Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg và Điều 6 Nghị định số 72/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
  • Mối quan hệ giữa truyền thông và quan hệ quốc tế: Khung lý luận giải thích cách thức truyền thông tham gia vào việc phân phối thông điệp quốc gia, định hình hình ảnh đối ngoại và đóng vai trò cầu nối thông tin giữa các chủ thể trong hệ thống quốc tế.

Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí và đối ngoại. Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế: Tiếp cận vai trò của Báo Nhân dân từ lý thuyết quan hệ quốc tế và truyền thông chính trị quốc tế.
  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, điều chỉnh của Báo Nhân dân theo 3 giai đoạn lịch sử từ năm 1986 đến năm 2020 gắn liền với các bước ngoặt của tư duy đối ngoại Việt Nam.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Khảo cứu hệ thống văn bản chỉ đạo, phân tích các bài viết, chuyên mục, tuyến bài thông tin đối ngoại trên Báo Nhân dân hằng ngày và Báo Nhân dân điện tử để rút ra nhận xét, đánh giá.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Hệ thống văn kiện của Đảng: Nghị quyết số 13-NQ/TW (1988), Chỉ thị số 11-CT/TW (1992), Nghị quyết số 08-NQ/TW (1993), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), Thông báo số 188-TB/TW (1998), Nghị quyết Đại hội Đảng từ khóa VI đến khóa XII, Chỉ thị số 26-CT/TW (2008), Kết luận số 16-KL/TW (2012).
  2. Văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước: Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg, Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg, Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg, Nghị định số 72/2015/NĐ-CP, Luật Báo chí các thời kỳ.
  3. Tài liệu thực tiễn và bài báo: Các số báo Nhân dân hằng ngày, các chuyên trang của Báo Nhân dân điện tử (Việt, Anh, Pháp, Trung, Nga, Tây Ban Nha), báo cáo tổng kết của Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin đối ngoại Trung ương và Bộ Biên tập Báo Nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò báo chí đối với công tác đối ngoại

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về truyền thông, báo chí và thông tin đối ngoại trong quan hệ quốc tế, đồng thời làm rõ quá trình chuyển biến tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay.

  1. Khái niệm và vai trò của thông tin đối ngoại: Luận án làm rõ thông tin đối ngoại là bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng và công tác đối ngoại. Thông tin đối ngoại thực hiện nhiệm vụ giải thích đường lối, chính sách, quảng bá hình ảnh quốc gia, cung cấp thông tin thế giới cho nhân dân trong nước và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái.

  2. Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại và chỉ đạo thông tin đối ngoại qua các thời kỳ:

    • Giai đoạn 1986–1995: Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa VI (5/1988) tạo bước ngoặt chuyển hướng chiến lược từ đối đầu sang đối thoại và cùng tồn tại hòa bình, ưu tiên giữ vững môi trường hòa bình để phát triển kinh tế. Ngày 13/6/1992, Ban Bí thư khóa VII ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại. Đây là văn kiện đầu tiên chính thức sử dụng thuật ngữ “thông tin đối ngoại” thay cho “tuyên truyền đối ngoại”, xác định 4 nội dung trọng tâm, phân định địa bàn ưu tiên (láng giềng, khu vực rồi mở rộng ra thế giới), đối tượng (chính giới, trí thức, doanh nhân, kiều bào) và các lực lượng triển khai.
    • Giai đoạn 1996–2011: Đại hội VIII (1996), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) và Thông báo số 188-TB/TW (12/1998) bổ sung đối tượng thông tin đối ngoại gồm người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 26/4/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg thể chế hóa công tác quản lý thông tin đối ngoại. Ngày 27/12/2001, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Quyết định số 16-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại. Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 10/9/2008 của Ban Bí thư khóa X và Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại tạo cơ sở pháp lý và cơ chế phối hợp liên ngành.
    • Giai đoạn từ năm 2011 đến nay: Đại hội XI (2011) chuyển trọng tâm từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện”. Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 16-KL/TW (2012) về Chiến lược phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011–2020, nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ thông tin đối nội và thông tin đối ngoại, hiện đại hóa phương tiện truyền thông.
  3. Báo Nhân dân trong giai đoạn 1975–1986: Luận án khái quát bối cảnh sau thống nhất, khi Báo Nhân dân thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền củng cố hòa bình, khẳng định chủ quyền, song hoạt động thông tin đối ngoại thời kỳ này còn chịu tác động của cơ chế quan liêu bao cấp và tình trạng đất nước bị bao vây, cô lập.

Chương 2: Báo Nhân dân trong việc triển khai công tác thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến nay

Chương 2 là chương thực chứng trọng tâm của luận án, khảo sát chi tiết hoạt động của Báo Nhân dân qua ba giai đoạn lịch sử trên 4 trục nội dung chính.

+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
|               BỐN TRỤC NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI CỦA BÁO NHÂN DÂN                           |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và thành tựu công cuộc Đổi mới           |
| 2. Tuyên truyền chính sách đối ngoại, quá trình hội nhập quốc tế và quan hệ song phương/đa phương |
| 3. Tuyên truyền giới thiệu đất nước, con người, lịch sử và nền văn hóa Việt Nam                  |
| 4. Đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch                |
+---------------------------------------------------------------------------------------------------+

1. Giai đoạn 1986–1995: Phá thế bao vây cấm vận

  • Tuyên truyền đường lối Đổi mới: Báo Nhân dân tập trung giải thích các chủ trương chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Đầu tư nước ngoài (1987), bước đầu thông tin về các thành tựu kiềm chế lạm phát và ổn định sản xuất lương thực.
  • Tuyên truyền chính sách đối ngoại: Phản ánh nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia sau khi Việt Nam rút quân tình nguyện, các bước khai thông đối thoại với Hoa Kỳ tiến tới bình thường hóa quan hệ (1995), thiết lập quan hệ ngoại giao với EU (1990) và sự kiện gia nhập ASEAN (7/1995).
  • Quảng bá văn hóa, đất nước: Giới thiệu truyền thống yêu chuộng hòa bình, các giá trị di sản văn hóa nhằm xóa bỏ hình ảnh Việt Nam gắn liền với chiến tranh.
  • Đấu tranh dư luận: Bác bỏ các luận điệu vu cáo Việt Nam trong vấn đề người di tản, vấn đề tù binh/người Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA), và các luận điệu can thiệp nội bộ.

2. Giai đoạn 1996–2011: Triển khai hội nhập quốc tế

  • Tuyên truyền đường lối và thành tựu: Thông tin về các kỳ Đại hội Đảng VIII, IX, X; công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thành tựu xóa đói giảm nghèo và thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs).
  • Tuyên truyền đối ngoại và hội nhập: Phản ánh việc thực hiện Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA 2000), tiến trình đàm phán và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO 2007), tổ chức Hội nghị Cấp cao APEC Hà Nội 2006, đảm nhiệm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2008–2009).
  • Phát triển nền tảng xuất bản: Báo Nhân dân điện tử ra đời và từng bước xây dựng các phiên bản tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, mở rộng khả năng tiếp cận bạn đọc toàn cầu và cộng đồng kiều bào.
  • Đấu tranh phản bác: Phản ánh các bài viết chuyên luận bảo vệ chủ trương tự do tôn giáo, thành tựu nhân quyền, phản bác các báo cáo sai lệch của các tổ chức quốc tế thiếu thiện chí và âm mưu “diễn biến hòa bình”.

3. Giai đoạn từ năm 2011 đến nay: Hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện

  • Tuyên truyền hội nhập toàn diện: Chuyển tải các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA), hoạt động của Việt Nam tại ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Liên Hợp Quốc và việc tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc.
  • Mở rộng ngôn ngữ đối ngoại: Báo Nhân dân điện tử phát triển thêm các trang tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha, nâng tổng số ngôn ngữ phát hành trực tuyến lên 6 thứ tiếng.
  • Tuyên truyền chủ quyền biển đảo: Mở các chuyên mục, tuyến bài phân tích căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), phản ánh các sự kiện phức tạp trên Biển Đông một cách chuẩn xác theo định hướng của Đảng và Nhà nước.
  • Đấu tranh, định hướng dư luận: Đăng tải các loạt bài phân tích chính luận về dân chủ, nhân quyền, đất đai, dân tộc, tôn giáo, đẩy lùi thông tin sai lệch trên không gian mạng và mạng xã hội.
| Giai đoạn lịch sử | Trọng tâm chính sách đối ngoại | Phương thức và ấn phẩm của Báo Nhân dân | Trọng tâm thông tin đối ngoại |
| :--- | :--- | :--- | :--- |
| **1986–1995** | Phá thế bao vây, cấm vận; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. | Báo in Nhân dân hằng ngày; xuất bản các bài viết chính luận, thông tấn. | Tuyên truyền thành tựu bước đầu của Đổi mới; bình thường hóa quan hệ với các nước lớn; gia nhập ASEAN. |
| **1996–2011** | Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; đưa các mối quan hệ vào chiều sâu. | Báo in kết hợp thành lập Báo Nhân dân điện tử (tiếng Việt, Anh, Pháp, Trung). | Thông tin về gia nhập WTO, tổ chức APEC 2006, Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ; vận động kiều bào. |
| **2011–2020** | Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện trên mọi lĩnh vực. | Tổ hợp báo chí đa phương tiện: Báo in, báo điện tử (6 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Trung, Nga, Tây Ban Nha). | Tuyên truyền các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA); bảo vệ chủ quyền Biển Đông theo luật pháp quốc tế; đấu tranh nhân quyền. |

Chương 3: Nhận xét và kiến nghị một số giải pháp

Nhận xét đánh giá vai trò của Báo Nhân dân

  • Ưu điểm và thành tựu:
    1. Báo Nhân dân đã thực hiện đúng chức năng cơ quan ngôn luận Trung ương của Đảng, định hướng thông tin chính xác, kịp thời về đường lối, chủ trương đối ngoại.
    2. Đóng vai trò cầu nối thông tin hai chiều, đưa quan điểm của Việt Nam ra thế giới và chuyển tải tình hình quốc tế đến công chúng trong nước.
    3. Đấu tranh dư luận hiệu quả, làm sáng tỏ các vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến tôn giáo, nhân quyền, dân tộc, và chủ quyền biển đảo.
    4. Mở rộng diện bao phủ thông tin qua hệ thống báo điện tử đa ngữ.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    1. Tính hấp dẫn và tính linh hoạt của một số bài viết đối ngoại trên báo in còn hạn chế, văn phong đôi lúc còn mang tính hành chính, nặng về đưa tin hội nghị, sự kiện.
    2. Ứng dụng công nghệ làm báo hiện đại (digital media, truyền thông đa phương tiện) trong thông tin đối ngoại ở một số thời điểm chưa theo kịp tốc độ phát triển của truyền thông số.
    3. Lực lượng phóng viên, biên tập viên chuyên trách về thông tin đối ngoại có trình độ ngoại ngữ cao, am hiểu sâu về văn hóa, tâm lý truyền thông quốc tế còn mỏng; mạng lưới cơ quan thường trú ở nước ngoài chưa phủ rộng khắp các địa bàn trọng điểm.

Các nhóm giải pháp kiến nghị

Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin đối ngoại của Báo Nhân dân:

  1. Đa dạng hóa và phối hợp các hình thức thông tin đối ngoại:
    • Kết hợp chặt chẽ giữa báo in truyền thống và báo điện tử đa ngữ; ứng dụng các hình thức thể hiện đa phương tiện (infographic, megastory/longform, podcast, video clip) trên các nền tảng mạng xã hội để tiếp cận giới trẻ và bạn đọc quốc tế.
  2. Cân đối nội dung và nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại:
    • Đổi mới văn phong, cách tiếp cận thông tin theo hướng phù hợp với tâm lý, thị hiếu tiếp nhận của từng khu vực địa lý và từng nhóm công chúng mục tiêu; cân đối tỷ trọng giữa thông tin chính trị đối ngoại với thông tin kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch; chủ động cung cấp thông tin kịp thời đối với các vấn đề nhạy cảm, không để khoảng trống thông tin.
  3. Phát triển nguồn nhân lực và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật:
    • Quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phóng viên, biên tập viên đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ ngoại ngữ thành thạo và kỹ năng tác nghiệp báo chí hiện đại; đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật xuất bản số, bảo đảm an ninh mạng; mở rộng mạng lưới cộng tác viên quốc tế, chuyên gia và nâng cao hiệu quả các phân xã Báo Nhân dân thường trú tại nước ngoài.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  • Hệ thống hóa các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về thông tin đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2020 (từ Nghị quyết số 13-NQ/TW năm 1988, Chỉ thị số 11-CT/TW năm 1992 đến Kết luận số 16-KL/TW năm 2012).
  • Khung phân tích liên ngành giữa lý luận quan hệ quốc tế và lý luận báo chí truyền thông được vận dụng cụ thể để làm rõ cơ chế một cơ quan báo Đảng triển khai đường lối đối ngoại của quốc gia qua các giai đoạn phá vây, hội nhập kinh tế và hội nhập toàn diện.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đây là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện quá trình Báo Nhân dân thực hiện chức năng thông tin đối ngoại trong suốt 35 năm Đổi mới, ghi nhận những thành tựu của báo in và báo điện tử (6 thứ tiếng).
  • Đưa ra hệ thống nhận xét khách quan về những mặt thành công và những điểm nghẽn của Báo Nhân dân trong xử lý thông tin đối ngoại; đề xuất các giải pháp kỹ thuật, tổ chức nhân sự và phương thức thể hiện phù hợp với yêu cầu của tổ hợp báo chí chủ lực đa phương tiện trong thời kỳ chuyển đổi số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Về phạm vi ấn phẩm: Luận án tập trung khảo sát hai ấn phẩm trung tâm là Báo Nhân dân hằng ngày và Báo Nhân dân điện tử; chưa bao quát toàn bộ hệ thống các ấn phẩm khác trong tổ hợp như Nhân dân cuối tuần, Nhân dân hằng tháng, báo Thời Nay và kênh Truyền hình Nhân dân.
  • Về chiều kích tác động: Tác giả tiếp cận vai trò của Báo Nhân dân chủ yếu ở tư cách là công cụ truyền tải và triển khai đường lối, chính sách đối ngoại ra công chúng quốc tế; chưa nghiên cứu sâu chiều kích tác động phản hồi của báo chí đến quy trình tham mưu, hoạch định chính sách đối ngoại của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Về mốc thời gian: Số liệu và tư liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2020 theo giới hạn thời gian thực hiện luận án.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát toàn diện hoạt động thông tin đối ngoại trên tất cả các loại hình báo chí của Báo Nhân dân, đặc biệt là kênh Truyền hình Nhân dân và các nền tảng mạng xã hội mới.
  • Nghiên cứu cơ chế tác động hai chiều: vai trò của thông tin báo chí đối với việc định hình và điều chỉnh chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Báo chí học, Truyền thông quốc tế, Lịch sử Đảng và Ngoại giao; cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử ngoại giao và báo chí thời kỳ Đổi mới.
  2. Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng Chương 1 để làm tài liệu giảng dạy về cơ sở lý luận của thông tin đối ngoại, sự tiến triển của các văn kiện chỉ đạo của Đảng từ Chỉ thị số 11-CT/TW đến Kết luận số 16-KL/TW.
  3. Cơ quan quản lý và các cơ quan báo chí đối ngoại: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng ban biên tập các báo, đài chủ lực có thể tham khảo các bài học kinh nghiệm và nhóm giải pháp tại Chương 3 để xây dựng đề án đổi mới phương thức truyền thông đối ngoại và quy hoạch tổ hợp báo chí đa phương tiện.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuật ngữ “thông tin đối ngoại” lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng trong văn kiện nào?
Thuật ngữ “thông tin đối ngoại” lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 13/6/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về “Đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại”, thay thế cho thuật ngữ “tuyên truyền đối ngoại” trước đó.

2. Luận án phân chia quá trình Báo Nhân dân triển khai công tác thông tin đối ngoại thành những giai đoạn nào?
Luận án phân chia thành 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1986–1995: Giai đoạn đầu công cuộc Đổi mới, phục vụ phá thế bao vây cấm vận.
  • Giai đoạn 1996–2011: Giai đoạn triển khai hội nhập quốc tế, trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Giai đoạn từ năm 2011 đến 2020: Giai đoạn triển khai hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện.

3. Hiện nay Báo Nhân dân điện tử triển khai thông tin đối ngoại bằng những ngôn ngữ nào được nêu trong văn bản?
Theo văn bản luận án, Báo Nhân dân điện tử triển khai thông tin qua 6 phiên bản ngôn ngữ gồm: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha.

4. Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về quản lý nhà nước đối với thông tin đối ngoại là văn bản nào?
Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy định về lĩnh vực này là Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chính nào để nâng cao vai trò của Báo Nhân dân trong công tác đối ngoại?
Chương 3 của luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp chính:

  • Đa dạng hóa và phối hợp các hình thức thông tin đối ngoại (kết hợp báo in, báo điện tử, đa phương tiện).
  • Cân đối nội dung và nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại (đổi mới cách viết, phù hợp thị hiếu từng đối tượng độc giả).
  • Phát triển đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên, đồng thời tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật và nâng cao nghiệp vụ.

Kết luận

Luận án “Vai trò của báo Nhân dân trong công tác đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 tới nay” của tác giả Nguyễn Trung Thành là công trình nghiên cứu chuyên ngành Quan hệ Quốc tế, làm rõ sự kết hợp giữa mặt trận báo chí và mặt trận ngoại giao trong tiến trình Đổi mới. Công trình đã hệ thống hóa các chủ trương của Đảng về thông tin đối ngoại, đồng thời phân tích chi tiết quá trình Báo Nhân dân thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, quảng bá hình ảnh quốc gia và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái qua 3 giai đoạn lịch sử (1986–2020). Các phân tích thực trạng và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu, đào tạo và quản lý báo chí đối ngoại tại Việt Nam.