MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Công tác quản lý của Nhà nƣớc về đất đai là một trong những nhiệm vụ quan trọng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm. Để quản lý chặt chẽ quỹ đất quốc gia, Nhà nƣớc cần tổ chức kê khai đăng ký và cấp GCNQSDĐ, đây là một chứng thƣ pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nƣớc và chủ sử dụng.Về phía Nhà nƣớc, tiến độ cấp và mức độ hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ cho ngƣời sử dụng đất chứng tỏ khả năng quản lý của Nhà nƣớc trong việc quản lý tài sản đất đai, giúp Nhà nƣớc kiểm soát tình hình đất đai một cách thuận tiện. Về phía ngƣời sử dụng đất, GCNQSDĐ là cơ sở để họ đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, là tiền đề để họ có thể thực hiện các quyền mà pháp luật đã trao cho ngƣời sử dụng đất, cụ thể và quan trọng nhất là các quyền giao dịch đối với quyền sử dụng đất. Hiện nay việc công bố thông tin cho ngƣời dân tại tỉnh Bình Dƣơng về các thủ tục và giấy tờ liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ còn khan hiếm trong khi nhu cầu tìm KLTN Thông tin địa lý kiếm thông tin của ngƣời dân khi đi làm thủ tục giấy tờ địa chính rất cấp thiết.
Do các thông tin không đƣợc công bố rộng rãi nên đã khiến hiện tƣợng cò giấy tờ đất theo đà phát triển ảnh hƣởng đến thời gian hoàn thành giấy tờ và tiền bạc của ngƣời dân. Việc tích hợp công bố thông tin từ phần mềm quản lý việc cấp GCNQSDĐ tại tỉnh Bình Dƣơng và trang web công bố thông tin là yêu cầu cần thiết và thuận lợi cho nhà quản lý và ngƣời dân trong việc xử lý cũng nhƣ cập nhật thông tin địa chính. Ngày nay sự phát triển của công nghệ thông tin đã thực sự có rất nhiều ảnh hƣởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, nó trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực trong các công tác quản lý, xây dựng dữ liệu cũng nhƣ đề xuất các chiến lƣợc kinh doanh hiệu quả. Một trong những công cụ đƣợc phát triển mạnh trong những năm gần đây đƣợc kể đến là GIS (Geographic Information System – hệ thống thông tin địa lý), GIS đã đƣợc ứng dụng rất nhiều trong các ngành khoa học có liên quan đến dữ liệu không gian, với khả năng quản lý chia sẽ các ứng dụng thông tin địa lý qua mạng Internet, công nghệ GIS đƣợc phát triển theo hƣớng tích hợp GIS trên nền Web hay còn gọi là WebGIS.
WebGIS là xu hƣớng phổ biến thông tin mạnh mẽ trên Internet không chỉ dƣới góc độ thông tin thuộc tính thuần túy mà nó kết hợp đƣợc với thông tin không gian hữu ích cho ngƣời sử dụng. Đây là một hƣớng đi mới 1 mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trƣờng cũng nhƣ quản lý đất đai. WebGIS mã nguồn mở có những bƣớc tiến mạnh mẽ trong những năm gần đây và từng bƣớc trở thành những công cụ thiết thực và hỗ trợ tốt cho ngƣời dùng, đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý các thông tin thuộc tính kết hợp với các thông tin không gian. Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài “Ứng dụng WebGIS hỗ trợ tra cứu thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tỉnh Bình Dƣơng”.
Với mong muốn đáp ứng nhu cầu tra cứu thông tin đất đai cho ngƣời dân và doanh nghiệp qua môi trƣờng mạng máy tính.2 Mục tiêu nghiên cứu Thiết kế và xây dựng đƣợc một trang web phục vụ một số nội dung quản lý của nhà nƣớc về thông tin cấp GCNQSDĐ. Mục tiêu cụ thể nhƣ sau: - Xây dựng đƣợc cơ sở dữ liệu địa lý lƣu trữ các thông tin trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Thiết kế giao diện trang WebGIS có các chức năng cung cấp thông tin về tiến độ xử lý hồ sơKLTN Thông cấp giấy chứng tin địa nhận quyền lý đất, thông tin chủ sử dụng sử dụng và thông tin giấy chứng nhận. - Xây dựng đƣợc một trang WebGIS hoàn chỉnh với các khả năng tra cứu thông tin liên quan đến việc cấp GCN và hiển thị đƣợc thửa đất của từng chủ sở hữu, ngƣời quản lý có thể cập nhật, sửa đổi thông tin đăng ký cấp GCNQSDĐ và cho ngƣời dân biết đƣợc quá trình xử lý hồ sơ đang đi tới đâu.
- Tìm hiểu ngôn ngữ lập trình ASP.NET(C#) hỗ trợ xây dựng các chức năng và giao diện cho trang WebGIS 1.3 Giới hạn và phạm vi của đề tài Về thời gian: đề tài đƣợc giới hạn thực hiện trong khoảng thời gian từ 1/02/2014 đến ngày 05/06/2014. Về công nghệ: Đề tài sử dụng công nghệ WebGIS với ngôn ngữ lập trình ASP.NET(C#) sử dụng trên phần mềm Microsoft Visual Studio và hệ quản trị cơ sở dữ liệu PostgreSQL/PostGIS. Về địa lý: Việc ứng dụng WebGIS hỗ trợ tra cứu thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể đƣợc thực hiện tốt trên toàn tỉnh Bình Dƣơng nhƣng trong 2 phạm vi đề tài sử dụng thí điểm dữ liệu tại khu vực xã Vĩnh Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng, thành phố Hồ Chí Minh. Về nội dung: đề tài sử dụng một phần dữ liệu đƣợc xử lý trong phần mềm ứng dụng GIS hỗ trợ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tỉnh Bình Dƣơng của tác giả Trần Thị Thi Thi thực hiện để xây dựng trang WebGIS, chức năng của trang Web bao gồm truy vấn và hiển thị đƣợc thông tin không gian về hình dạng thửa đất cùng các thông tin thuộc tính, cho phép ngƣời quản lý cập nhật thông tin thuộc tính.
Về dữ liệu: Dữ liệu đƣợc giới hạn chỉ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho một cá nhân. KLTN Thông tin địa lý 3 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Khu vực nghiên cứu 2.1 Vị trí địa lý Bình dƣơng thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dƣơng, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Phƣớc, Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nƣớc. Với tọa độ địa lý 10051’46” – 11030’ vĩ độ Bắc, 106020’-106058’ kinh độ Đông (nguồn: Sở Khoa học Công nghệ Bình Dƣơng), Bình Dƣơng tiếp giáp với các tỉnh thành sau: Phía Bắc giáp tỉnh Bình Phƣớc. Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh.
Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Nói về xã Vĩnh Tân đây là một xã ở phía Đông thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Xã Vĩnh Tân là một xã vùng xa của tỉnh Bình Dƣơng.
Xã Vĩnh Tân tiếp giáp với bốn xã: Phía Đông giáp Hòa Lợi, Bến Cát. Phía Nam giáp Phú Chánh, Tân Uyên. KLTN Thông tin địa lý Phía Đông giáp Tân Vĩnh HIệp, Tân Uyên. Phía Bắc giáp Tân Bình, Tân Uyên.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương 4 2.2 Điều kiện tự nhiên 2.1 Địa hình Vùng đất Bình Dƣơng tƣơng đối bằng phẳng, thấp đần từ Bắc xuống Nam.
Nhìn tổng quát, Bình Dƣơng có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lƣợn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi… có một số núi thấp nhƣ núi Châu Thới (thị xã Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp. Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy), có vùng vừa bị bào mòn vừa tích tụ và lắng đọng. Nguyên nhân chủ yếu là do nƣớc mƣa và dòng chảy tác động trên bề mặt, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trƣợt vì trọng lực của nền địa chất. Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm.2 Giao thông Bình Dƣơng là một tỉnh có hệ thống giao thông đƣờng bộ và đƣờng thủy rất KLTN quan trọng nối liền giữa Thông các vùng tin địa trong và ngoài lý hệ thống đƣờng bộ, nổi tỉnh.
Trong bật lên quốc lộ 13 – con đƣờng chiến lƣợc cực kì quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía Bắc, qua tỉnh Bình Phƣớc và nối Vƣơng Quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đƣờng có ý nghĩa chiến lƣợc cả về quân sự và kinh tế. Về giao thông đƣờng thủy, Bình Dƣơng nằm giữa 3 con sông, lớn nhất là sông Sài Gòn. Bình Dƣơng có thể nối với các cảng lớn ở phía Nam và giao lƣu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.2 Kiến thức tổng quan 2.1 Hệ thống thông tin địa lý (GIS) 2.1 Khái niệm Theo Nguyễn Kim Lợi và các công tác viên (2010) hệ thống thông tin địa lý đƣợc định nghĩa nhƣ là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa lý không gian, nhằm trợ giúp việc thu nhận, lƣu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của 5 con ngƣời đặt ra, chẳng hạn nhƣ: để hỗ trợ việc ra quyết định cho việc quy hoạch và quản lý, sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng, giao thông, dễ dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và những việc lƣu trữ dữ liệu hành chính.2 Lịch sử phát triển GIS GIS đƣợc hình thành từ các ngành khoa học: Địa lý, Bản đồ, Tin học và Toán học.
Nguồn gốc của GIS là tạo các bản đồ chuyên đề.Việc sử dụng máy tính trong vẽ bản đồ đƣợc bắt đầu vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, từ đây thì khái niệm GIS ra đời nhƣng chỉ đến những năm 80 thì GIS mới thực sự có thể phát huy hết khả năng của mình do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ phần cứng. Từ những năm 1990 trở lại đây thì công nghệ GIS đã có một sự phát triển nhảy vọt, trở thành một công cụ hữu hiệu trong quản lý và trợ giúp việc ra quyết định. Các phần mềm GIS đang hƣớng tới đƣa công nghệ GIS thành hệ tự động thành lập bản đồ và xử lý số liệu, hệ chuyên gia, hệ trí tuệ nhân tạo và hƣớng đối tƣợng.