CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRAM CAM VA LIEU PHAP NHAN THUC HANH VI 1. Tổng quan về rối loan tram cảm 1. Nghiên cứu dịch tế về tram cảm Các nghiên cứu dịch tễ học liên tục cho thấy sự gia tăng thị trường về tỷ lệ trầm cảm trong lứa tuổi vị thành niên. Từ giữa cho đến cuối giai đoạn tuôi vị thành niên, tỷ lệ có thể chân đoán trầm cảm là tương đương với tỷ lệ mắc ở người lớn.
Trong một bản tóm tắt của sáu nghiên cứu dịch tễ học từ năm 1987 đến năm 2000, Lewinsohn & Essau (2002) đã báo cáo tỷ lệ lưu hành suốt đời của rối loạn trầm cảm chủ yếu ở vị thành niên từ 1,9% đến 18,4% (so với đưới 3% ở lứa tuổi trước tuổi vị thành niên). Nghiên cứu theo dõi các báo cáo tự báo cáo về các triệu chứng trầm cảm theo thời gian cho thấy tỷ lệ tăng trong lứa tuổi vị thành niên (Ge, Lorenz, Conger, Elder, & Simons, 1994). Những mức tăng này của các triệu chứng trầm cảm kéo dài được liên kết với sự khác biệt đáng kể về chức năng (Gotlib, Lewinsohn, & Seeley, 1995) và báo hiệu sự khởi đầu của các rối loạn lâm sang tiếp theo (Angst, Sellaro, & Merikangas, 2000). [42] Một trong những đặc điểm mạnh mẽ nhất của tram cảm là sự khác biệt giới tính mới nỗi trong tuôi vị thành niên.
Cả hai nghiên cứu cắt ngang (Angold, Erkanli, Silberg, Eaves, & Costello, 2002) và nghiên cứu (Costello et al., 2003; Hankin et al., 1998) cho thay các bé gái bắt đầu biéu hiện các triệu chứng tram cảm và rồi loan sớm hơn từ trước tuôi vị thành niên (khoảng 12 -14 tuổi) sự khác biệt giới tính này tăng lên trong suốt tuổi vị thành niên (Hankin và cộng sự, 1998), cho đến khi nó đạt tỷ lệ nữ so với nam là 2:1, ton tại trong suốt vòng đời. [42] Năm 2005, Ryan dự tính con số trẻ vị thành niên có biểu hiện trầm cảm là 30%. Nhiều người trẻ sẽ trải nghiệm cảm giác này khi trưởng thành. Trầm cảm có thể khiến người ta sử dụng chất gây nghiện, tự sát và các rỗi loạn tâm lý khác.
[29] Năm 2007, nghiên cứu của hai tác giả Carmen và Tracie cho thấy có khoảng 16,9% số trẻ em Mỹ gốc Mexico có biểu hiện trầm cảm. Nghiên cứu của Bradley và cộng sự (2011) đã chỉ ra ty lệ trầm cảm của thanh niên trong độ tuôi 18 là khoảng 20-25%. [29] Nghiên cứu “Mô hình dịch tễ học về chứng rối loạn trầm cảm chủ yếu: Ứng dụng cho nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu” năm 2010 cho thấy có hơn 298 triệu trường hợp trầm cảm trên toàn cầu, tỷ lệ trầm cảm cao nhất ở nhóm tudi từ 25 đến 34 tuổi. Tỷ lệ mắc trên toàn cầu giống nhau theo thời gian, năm 1990 là 4,4%, năm 2005 và 2010 là 4,4%.
Tỷ lệ trầm cảm năm 2010 cao hơn ở nữ (5,5%) so với nam (3,2%).[37] Trong nghiên cứu phân tích tổng hợp “Một đánh giá có hệ thống về các nghiên cứu về tỷ lệ tram cảm ở sinh viên đại học”, các tác giả đã tiễn hành tìm kiếm trên các nền tảng PubMed, PsycINFO, BioMed Central và Medline, sau đó lựa chon những nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí đề ra, được công bố từ năm 1990 đến năm 2010 báo cáo về tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên đại học. Qua phân tích tổng hợp cho thay tỷ lệ mắc được báo cáo dao động từ 10% đến 85% với trọng số là 30,6%. Kết qua cho thấy rang sinh viên đại học có tỷ lệ trầm cảm cao hơn đáng kể so với tỷ lệ được tìm thay trong dân số chung.[33] Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới WHO năm 2015 có hơn 300 triệu người tương đương 4,4% dan số thé giới bị tram cảm. Nguy co mắc tram cảm được gia tăng bởi nghèo đói, thất nghiệp, các sự kiện cuộc sông như cái chết của một người thân yêu hoặc mối quan hệ tan vỡ, bệnh tật và các vấn đề do sử dụng rượu và ma tuý.
Tram cảm phô biến hơn ở nữ (5,1%) so với nam (3,6%).[58] Năm 2018, Reem và cộng sự đã phân tích dữ liệu từ Điều tra Quốc gia về Sức khỏe Trẻ em của Hoa Kỳ năm 2016 và ước tính tỷ lệ trong số trẻ em từ 3-17 tuổi: 7,1% có vấn đề về lo âu, 7,4% có vấn đề về hành vi / ứng xử và 3,2% bị tram cam. Mức độ phổ biến của mỗi rối loạn cao hơn khi tuôi càng cao va tình trạng kém hơn về sức khỏe của trẻ, cha mẹ trẻ hoặc người chăm séc. Những người tham gia bao gồm 172.495 thanh thiếu niên từ 12 đến 17 tuổi và 178.755 người lớn từ 18 đến 25. Nghiên cứu này đã xem xét các xu hướng quốc gia về tỷ lệ phổ biến các giai đoạn tram cảm chủ yếu trong 12 tháng ở thanh thiếu niên và thanh niên nói chung và trong các nhóm xã hội khác nhau, cũng như xu hướng điều trị trầm cảm từ năm 2005 đến 2014.
Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc rỗi loạn tram cảm chủ yếu trong 12 tháng tăng từ 8,7% năm 2005 lên 11,3% năm 2014 ở thanh thiếu niên và từ 8,8% lên 9,6% ở thanh niên. Sự gia tăng lớn hơn và có ý nghĩa thống kê chỉ trong độ tuôi từ 12 đến 20 tuổi. Nguy cơ tram cảm tăng mạnh khi trẻ em chuyên sang tuổi vị thành niên. Trong Khảo sát Bệnh tật Quốc gia Hoa Kỳ - Bồ sung cho thanh thiếu niên năm 2001 đến 2004, 11,7% thanh thiếu niên từ 13 đến 18 tuổi đáp ứng các tiêu chí về rối loạn tram cảm nặng hoặc rỗi loạn nhịp tim suốt đời.[50] Cuộc điều tra dịch tễ quốc gia về rượu và các tình trạng liên quan III của Hoa Kỳ (2017) trên 36390 người trưởng thành cho kết quả tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm nặng trong 12 tháng và suốt đời lần lượt là 10,4% và 20,6%, với hầu hết ở mức trung bình (6-7 triệu chứng) hoặc nặng (8-9 triệu chứng) và liên quan đến bệnh đi kèm và suy giảm chức nang.[41] Nghiên cứu “Ty lệ tram cảm và các triệu chứng tram cảm ở bệnh nhân ngoại trú: một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp” phân tích tổng hợp từ 83 nghiên cứu cắt ngang liên quan đến 41.344 cá nhân của Wang, Wu, Lai, và cộng sự (2017) đưa ra tỷ lệ trầm cảm hoặc các triệu chứng trầm cảm gộp chung ở người bệnh ngoại trú là 26%.[55] Nhóm tác giả Grover, Raju, Sharma & Shah (2019) đã tong hợp, phân tích các nghiên cứu của An độ về trầm cảm trẻ em và thanh thiếu niên.
Từ các dữ liệu tìm được cho thấy tỷ lệ phổ biến tram cảm/rối loạn ái kỷ dao động từ 1,2% đến 21% trong các nghiên cứu thực hiện tại phòng khám; 3% —68% trong các nghiên cứu tại trường học và 0,1% —6,94% trong các nghiên cứu cộng đồng. Chỉ có một nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh từ Ấn Độ ước tính tỷ lệ mắc là 1,6%. Sự khác biệt lớn về tỷ lệ được báo cáo qua các nghiên cứu khác nhau chủ yếu là do sự khác biệt về phương pháp luận giữa các nghiên cứu.[40] Nghiên cứu “Rối nhiễu tâm lý — chan đoán và trị liệu với học sinh phô thông trên địa bàn Hà Nội” của Viện Tâm lý học năm 2000 cho thay ở lứa tuổi 17 có 19,5% học sinh bị rối nhiễu ở dạng thu mình; 40% thường than phiền về cơ thé; 22,5% lo âu tram cảm; 29,3% có vướng mắc về các van dé xã hội như: bỏ học, trốn nhà, đánh lộn, dùng ma túy. [5] Năm 2003, trong nghiên cứu Kết qua chân đoán tram cảm ở học sinh THPT Hà Nội trên 566 học sinh THPT, Nguyễn Bá Đạt báo cáo kết quả có 8,8% học sinh bị trầm cảm, tỷ lệ học sinh bị trầm cảm tăng lên ở học sinh lớp 11 va học sinh lớp 12 so với hoc sinh lớp 10.
[5] Năm 2007, Hoàng Câm Tú và cộng sự khảo sát sức khỏe tâm thần ở 1.727 học sinh THCS ở Hà Nội cho thay có 25,76% tổng số học sinh có van đề về sức khỏe tâm than, trong đó số học sinh có những vấn dé cảm xúc cao nhất - chiếm tới 29,7%, tỷ lệ nữ mắc nhiều hơn nam. Nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh, Bahr Weiss và Nguyễn Cao Minh (2013) đã điều tra dịch té trên 1.314 trẻ em từ 6 - 16 tuổi ở 10 tỉnh, thành phố Việt Nam đã cho thay có 9,6% trẻ có các van đề hướng nội ở mức lâm sàng. Trong đó, lo âu/ tram cảm chiếm 1,8%, thu mình chiếm 2,1%, than phiền cơ thể chiếm 4,1%. Tỉ lệ này ở mức ranh giới là 18,3%.
Bên cạnh đó, tỉ lệ trẻ em từ 6 - 16 tuổi có các bất thường về tình cảm là 16,29%, ở mức ranh giới là 11,59%. [4] Theo nghiên cứu về “Thực trạng hành vi sức khỏe và nguy cơ trầm cảm của sinh viên năm thứ hai Đại học Thương mại” của Nguyễn Thị Hưởng, Nguyễn Hữu Hiểu và Trần Thị Thanh Hương (2014) trên 400 sinh viên đã chỉ ra kết quả có 48,8% sinh viên uống rượu; 8,8% hút thuốc lá; 3,2% sử dụng chất gây nghiện; đáng chú ý tỷ lệ sinh viên có nguy cơ tram cam là 49,5%. [18] Theo kết quả nghiên cứu của Kiều Thị Thanh Trà (2018) tại nghiên cứu “Trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh” trên 500 sinh viên đại học và cao đăng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có 11,4% sinh viên có dau hiệu tram cảm nhẹ, 20,2% sinh viên có dấu hiệu tram cảm vừa, 18,4% sinh viên có mức độ tram cảm nặng và 7,4% sinh viên có dấu hiệu trầm cảm rất nặng. [27] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thư và cộng sự về “Trầm cảm ở học sinh Trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (2019) chỉ ra rằng có hơn 5% số học sinh được khảo sát khẳng định bị rối loạn trầm cảm rõ rệt nhưng 3/4 số đó chưa được điều trị kịp thời.
[20] Tại nghiên cứu “Thực trạng trầm cảm ở học sinh THPT: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình và thành phố Hà Nội” của Trần Thị My Lương và Phan Diệu Mai (2019) trên tổng số 708 khách thể đã chỉ ra kết quả có 20,1% học sinh THPT có biểu hiện tram cảm, đa số các em ở mức độ tram cảm nhẹ, ty lệ tram cảm nặng chỉ khoảng 1% trong tổng số khách thể nghiên cứu. [29] Như vậy, kết quả của các nghiên cứu ở nước ngoài chỉ ra rằng tỷ lệ trầm cảm chung trong cộng đồng dao động trong khoảng từ 5% đến 25% tùy theo nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu, trong đó tỷ lệ trầm cảm ở nữ giới gấp đôi ở nam giới.