Chương 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm và thuật ngữ 1. Khái niệm trầm cảm Buồn rầu là phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước các kích thích của môi trường. Phản ứng này có thể trở thành bệnh lý khi biểu hiện trầm trọng, diễn biến kéo dài ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người.
Theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), giai đoạn trầm cảm được đặc trưng bởi khí sắc trầm, giảm mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động. Ngoài các triệu chứng đặc trưng, còn có các triệu chứng phổ biến, rối loạn hành vi, nhận thức, các triệu chứng cơ thể., các triệu chứng này phải kéo dài ít nhất 2 tuần. Tùy theo mức độ trầm cảm mà công việc gia đình, nghề nghiệp, xã hội bị ảnh hưởng ít hay nhiều. Trầm cảm ở phụ nữ độ tuổi trung niên 40-59 biểu hiện triệu chứng thường không điển hình, nhiều trường hợp các triệu chứng cơ thể nổi bật, che lấp các triệu chứng cảm xúc.
Thường gặp là các phàn nàn về sự mệt mỏi kéo dài, biểu hiện tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu sinh dục, các triệu chứng đau…Trầm cảm ở phụ nữ nói chung và phụ nữ trung niên nói riêng tác động rõ rệt đến cuộc sống gia đình, xã hội. Khái niệm về độ tuổi Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Điều 2 Luật người cao tuổi, Bộ luật hình sự 2015, phân loại độ tuổi được thể hiện như sau : Tuổi trung niên : 40-59 tuổi Người cao tuổi : 60-69 tuổi Người già : từ 70 tuổi trở lên Thư viện ĐH Thăng Long 4 Trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1999), tuổi trung niên được hiểu là độ tuổi trên dưới 40. Các nhà tâm lý học Phương Tây (Berk, L., 1988) phân chia độ tuổi trung niên là từ 40 đến 60. Thời gian bắt đầu và kết thúc của lứa tuổi trung niên phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân và những thử thách của cuộc sống con người.
Liệu một người phụ nữ 43 tuổi vừa mới sinh con có được xếp mình vào giai đoạn tuổi trung niên? Thời kỳ xác định tuổi trung niên là khác nhau với mỗi cá nhân, có thể ngắn với người này nhưng dài với người khác, bởi sự trưởng thành ở mỗi người là khác nhau. Do vậy, ngoài căn cứ theo thời gian để phân chia độ tuổi, người ta còn căn cứ vào tuổi sinh học, tuổi xã hội và tuổi tâm lý, trong đó: Tuổi sinh học phản ánh hoàn cảnh của cá nhân trong tương quan với tuổi thọ dự kiến của họ. Chẳng hạn, một người 45 tuổi bị bệnh sắp chết, sẽ có tuổi sinh học rất khác so với một người 45 tuổi khỏe mạnh, còn có khả năng sống tiếp 30 năm hoặc lâu hơn nữa. Tuổi xã hội có liên quan đến vị thế cá nhân so với chuẩn mực văn hóa.
Một người 40 tuổi là một tổng giám đốc sẽ rất khác biệt về tuổi xã hội với một người 40 tuổi chưa từng có thành công hoặc chưa có nghề nghiệp trong tay. Tuổi tâm lý thể hiện khả năng xử lý các yêu cầu, đòi hỏi của môi trường xã hội của con người và thích ứng với chúng. Tuổi tâm lý chứa đựng trong nó trình độ trí tuệ, khả năng học tập, các kỹ năng xã hội và cả các đặc điểm nhân cách như niềm tin, lý tưởng động cơ. Khái niệm về mãn kinh * Tiền mãn kinh: là thuật ngữ được sử dụng ở các phụ nữ tuổi khoảng gần cuối những năm 40 tới xung quanh tuổi 50 mà chu kỳ kinh nguyệt bắt đầu có thay đổi thất thường hoặc có biểu hiện của vô kinh từ 3-11 tháng.
Trong khoảng thời gian này bắt đầu xuất hiện sự dao động thất thường của các hormone sinh sản, có các biểu hiện sinh lý của mãn kinh (giảm ham muốn 5 tình dục, khô âm đạo, bốc hỏa…). Thời gian trung bình của giai đoạn này là 3,8 năm [6]. * Mãn kinh tự nhiên: được định nghĩa là sự dừng vĩnh viễn của chu kỳ kinh nguyệt, là kết quả sự mất chức năng hoàng thể buồng trứng. Theo WHO, mãn kinh được định nghĩa là 12 tháng vô kinh tiếp theo chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng.
* Tuổi mãn kinh: Tuổi đời sinh sản của người phụ nữ nói chung được tính từ khi có kỳ kinh đầu tiên ở lứa tuổi dậy thì đến kỳ kinh nguyệt cuối cùng. Mãn kinh tự nhiên điển hình (nhưng không phải là tất cả) thường xảy ra ở phụ nữ trung tuổi, ở cuối những năm 40 tuổi và đầu những năm 50 tuổi và là dấu hiệu của sự kết thúc thời kỳ sinh sản trong cuộc đời người phụ nữ. Theo WHO tuổi mãn kinh trung bình ở phụ nữ dao động ở tuổi 51. Tuổi trung bình mãn kinh tự nhiên ở Australia là 51,7 tuổi [7].
Ở các nước phát triển, tuổi mãn kinh trung bình là 51-52. Phạm Minh Đức và cộng sự (2004), nghiên cứu mãn kinh bảy vùng sinh thái đại diện cho Việt Nam, tuổi mãn kinh trung bình phụ nữ Việt Nam là 46-52 [5]. Tuy nhiên trong số ít nghiên cứu ở một số nước như Philipin, Ấn độ, Thái lan, Pakistan, Papua New Guinea và ở nhiều vùng khác nhau của Châu Phi nhận thấy mãn kinh tự nhiên sớm hơn vào khoảng giữa những năm 40 tuổi. Theo một nghiên cứu của Ringa, tuổi mãn kinh tự nhiên ở Indonexia là 45 tuổi [49] 1.
Bệnh sinh trầm cảm ở phụ nữ trung niên 1. Giả thuyết về rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh Ở phụ nữ trung niên thời kỳ mãn kinh, giả thuyết này đề cập tới vai trò của sự suy giảm của estrogene. Tác dụng sinh lý bình thường của estrogene với các chất dẫn truyền thần kinh [8],[9]: 1. Giả thuyết về yếu tố sinh hóa thần kinh tuổi già Thư viện ĐH Thăng Long 6 Ở tuổi già có sự giảm trọng lượng của não và tăng thể tích nước, một phần do tế bào thần kinh ở vỏ não giảm đi rõ rệt khi tuổi cao.
Đồng thời người ta nhận thấy hiện tượng thoái triển các khớp thần kinh, các nhánh tận và đuôi gai cũng thường xảy ra vào tuổi già. Đó là một giả thuyết về bệnh sinh của trầm cảm ở người cao tuổi nói chung 1. Giả thuyết về rối loạn nội tiết Vai trò của trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận trong bệnh sinh trầm cảm được nhiều nhà khoa học thừa nhận. Trong RLTC sự thay đổi nội tiết do rối loạn trục dưới đồi - tuyến yên -tuyến thượng thận, dẫn đến làm thay đổi nồng độ cortisone trong máu, não.
Vai trò của nội tiết tố giáp trạng TSH, TRH, T3, T4 cũng được một số tác giả nêu lên, đồng thời thấy giảm nồng độ TSH, thay đổi nồng độ TSH trong ngày, tăng nồng độ T3, T4 ở bệnh nhân trầm cảm đơn cực [2]. Giả thuyết tâm lý Lý thuyết tâm lý tập trung vào các yếu tố ngoài thay đổi sinh học. Các sang chấn tâm lý có thể là nguyên nhân gây bệnh hoặc là yếu tố thuận lợi cho sự khởi phát và tái diễn trầm cảm. Các triệu chứng cảm xúc được xem như đáp ứng với vai trò và chức năng của phụ nữ đã được thay đổi có liên quan tới tuổi như vấn đề về sức khỏe bản thân, sự quan tâm đến tuổi già, bệnh tật của cha mẹ, bản thân trở thành mẹ vợ hay mẹ chồng.
Các yếu tố tâm lý như gánh nặng chăm sóc cha mẹ già yếu, cảm giác cô đơn khi các con trưởng thành rời gia đình sống riêng, hôn nhân không hạnh phúc của các con, mất người thân, khó khăn về kinh tế, nghỉ hưu, quá lo lắng về triệu chứng mãn kinh, thay đổi vai trò và chức năng của bản thân trong gia đình (trở thành mẹ vợ hoặc mẹ chồng, có thêm con dâu, con rể)…là các sang chấn tâm lý gây ra các triệu chứng buồn chán và các triệu chứng khác [10], [11]. Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm: 7 Ở phụ nữ tuổi 40-59, do biến động về mặt tâm lý (thiếu sót hoặc phản ứng) và nhất là các biến đổi về mặt sinh học (các biến đổi nội tiết và các quá trình thoái triển tự nhiên), nên triệu chứng lâm sàng trầm cảm ở lứa tuổi này lại càng phức tạp với các biểu hiện lo âu, kích động, vật vã, kích thích, nghi bệnh, ý tưởng bị tội, hành vi tự sát và nhiều triệu chứng cơ thể kèm theo [13]. Phụ nữ độ tuổi 40-59 có thể và thường được biểu hiện triệu chứng cơ thể của rối loạn trầm cảm dưới nhiều hình thái lâm sàng khác nhau: giai đoạn trầm cảm điển hình với các triệu chứng cơ thể; trầm cảm ẩn che đậy bằng các triệu chứng cơ thể; biểu hiện trầm cảm cùng với các bệnh lý cơ thể; biểu hiện triệu chứng trầm cảm đan xen với các triệu chứng mãn kinh [13]. Nhưng dưới hình thái lâm sàng nào, ngoài các triệu chứng cảm xúc, trầm cảm ở phụ nữ tuổi 40- 59 có thể được thể hiện bằng các triệu chứng sinh học, triệu chứng đau, các triệu chứng lo âu kèm theo và triệu chứng mãn kinh 1.
Triệu chứng sinh học: * Tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn TC theo ICD 10 (1) Trầm cảm nhẹ, phải có 2/3 triệu chứng đặc trưng của TC và phải có ít nhất 2/7 triệu chứng phổ biến khác của TC. (2) Trầm cảm vừa, phải có ít nhất 2/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và phải có ít nhất 3/7 triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm. (3) Trầm cảm nặng, phải có 3/3 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và phải có ít nhất 4/7 triệu chứng phổ biến khác của trầm cảm. * Theo ICD-10 có 8 triệu chứng sinh học Giảm hoặc mất những quan tâm thích thú trong các hoạt động bình thường vẫn làm bệnh nhân hứng thú.
Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện hoặc hoạt động bình thường vẫn gây ra phản ứng cảm xúc. Thư viện ĐH Thăng Long 8 Tỉnh giấc sớm hơn 2 giờ hoặc sớm hơn giờ thức giấc hàng ngày; Triệu chứng nặng lên vào buổi sáng Bằng chứng khách quan về sự chậm chạp tâm thần vận động hoặc kích động. Ăn mất ngon rõ rệt; Sụt cân (5% hoặc nhiều hơn trọng lượng cơ thể trong tháng trước đó); Mất dục năng rõ rệt. Người bệnh cảm thấy uể oải, mệt mỏi.
Nét mặt kém linh hoạt, mất sinh động, thờ ơ với cuộc sống. Họ hạn chế tiếp xúc với mọi người, thụ động khi trò chuyện, ít quan tâm chú ý đến xung quanh. Họ giảm dần các quan tâm, các ham thích, thú vui cũ, không thích vui chơi giải trí. Giọng nói đơn điệu, thiếu sinh lực, chậm, nhỏ, ngắt quãng.