Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO CÁC DOANH NGHIỆP BÁN LẺ 1. Một số khái niệm về thương mại điện tử 1. Các khái niệm về thương mại điện tử 1. Khái niệm về thương mại Thương mại là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ.
giữa hai hay nhiều đối tác có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. Thương mại cũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lại lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước của khu vực cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàng loạt. Vì thế “Thuật ngữ Thương mại cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng”.
Các quan hệ mang tính thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: Bất cứ giao dịch nào về thương mại cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khác bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”. Khái niệm về thương mại điện tử Thương mại điện tử là một khái niệm tương đối rộng, được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau. Hiện nay có một số tên gọi phổ biến như: thương 11 mại trực tuyến (online trade), thương mại không giấy tờ (paperless commerce) hoặc kinh doanh điện tử (e-business). Tuy nhiên, tên gọi thương mại điện tử (e- commerce) được sử dụng nhiều nhất, được biết đến nhiều nhất và gần như được coi là quy ước chung để gọi hình thức thương mại giao dịch là mạng Internet.
Hiện nay, định nghĩa thương mại điện tử được rất nhiều tổ chức quốc tế đưa ra song chưa có một định nghĩa thống nhất về thương mại điện tử. Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử thể hiện qua việc các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình. Các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) như mô hình của trang web www.com, giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C) như mô hình của trang www.com hoặc giữa các cá nhân với nhau (C2C) trên www. Theo nghĩa rộng, đã có nhiều tổ chức đưa ra khái niệm về thương mại điện tử, như: Quan niệm của Liên minh Châu Âu (EU): Thương mại điện tử bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử.
Bao gồm Thương mại điện tử gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình). Quan niệm của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năm 1997: Thương mại điện tử gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các mạng mở (như internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở (như AOL). Trong đó hành hóa và các dịch vụ được đặt hàng qua mạng như thanh toán và phân phối thì có thể thực hiện ngay trên hoặc không. Theo Luật mẫu về thương mại điện tử của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế, năm 1996, thuật ngữ “thương mại” (commerce) cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.
Các quan 12 hệ mang tính thương mai bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ: thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasinh), xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ công trình (engineering); đầu tư, cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. Với quan điểm này, Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử theo chiều ngang như sau: Thương mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm: marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán. Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ các hoạt động kinh doanh chứ không chỉ giới hạn riêng hoạt động mua và bán, toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Như vậy đối với doanh nghiệp khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi làm tham gia thương mại điện tử.
Ở Việt Nam, chúng ta hiểu “Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại sử dụng thông điệp dữ liệu”, trong đó “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử” và “Phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quan học, điện tử hoặc công nghệ tương tự”. Như vậy, về bản chất, thương mại điện tử là hoạt động thương mại nó chỉ khác duy nhất đối với thương mại truyền thống là nó sử dụng các phương tiện điện tử vào trong hoạt động thương mại. Tóm lại, mặc dù trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về thương mại điện tử nhưng nhìn chung, đều thống nhất ở quan điểm cho rằng thương 13 mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại. Nói chính xác hơn: thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử mà nói chung ta không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.
Các phương tiện điện tử nói đến ở đây chính là các phương tiện kỹ thuật được sử dụng với mục đích tạo thuận tiện, hỗ trợ cho các hoạt động trong thương mại điện tử, bao gồm điện thoại, máy fax, truyền hình, thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử, mạng nội bộ và mạng liên nội bộ, internet và web. Khái niệm về ứng dụng thương mại điện tử Ứng dụng thương mại điện tử là việc thực hiện các giao dịch kinh tế thông qua các phương tiện điện tử, internet và các mạng thông tin khác ở trong một lĩnh vực hay một ngành nào đó. Phạm vi ứng dụng thương mại điện tử rất rộng, bao gồm mọi giao dịch được thực hiện nhờ công cụ số hóa thông qua internet, các mạng riêng để trao đổi các thông tin kinh doanh và thanh toán. Như vậy, ứng dụng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp bán lẻ điện máy là việc thực hiện mua bán, giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong các doanh nghiệp bán lẻ điện máy thông qua các phương tiện điện tử trên nền tảng công nghệ thông tin.
Quy trình này tất yếu dựa trên thành quả của công nghệ thông tin và chính sự bùng nổ, phát triển của CNTT đã làm cho việc ứng dụng thương mại điện tử trở nên phổ biến dần thay thế cho thương mại truyền thống. Mức độ ứng dụng thương mại điện tử được hiểu là tính thường xuyên/không thường xuyên của hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng internet cũng như tính thường xuyên/không thường xuyên của việc thanh toán giao dịch bằng hệ thống mạng mà doanh nghiệp thực hiện. Đặc điểm của thương mại điện tử 1. Đánh giá tức thời Các khách hàng thương mại điện tử có thể sẽ nhận được sản phẩm mà họ đặt mua trong ngày.
Một nhược điểm chính của thương mại điện tử doanh 14 nghiệp người tiêu dùng (B2C) là khách hàng trên mạng phải mất một số ngày mới nhận được hàng đặt mua. Các khách hàng đã quen đi mua hàng và có thể mang luôn hàng về cùng họ. Họ xem xét, họ mua và họ mang chúng về nhà. Hầu hết những hàng hóa bán qua thương mại điện tử sau khi khách hàng chọn sản phẩm, các site thương mại điện tử sẽ gửi yêu cầu của người mua tới những cửa hàng gần nhất với nhà hoặc cơ quan của họ.
Các site thương mại điện tử khác sẽ giao hàng từ một chi nhành địa phương ngay trong ngày hôm đó. Giải pháp này giải quyết được 2 vấn đề đặt ra đối với khách hàng, đó là: Giá vận chuyển cao và thời gian vận chuyển lâu. Giá cả linh hoạt Giá hàng hóa trên các site thương mại điện tử sẽ rất năng động. Mỗi khách hàng sẽ trả một giá khác nhau căn cứ trên nhiều nhân tố: Khách hàng đã mua bao nhiêu sản phẩm của công ty trước đây? Khách hàng đã xem bao nhiêu quảng cáo đặt trên trang web của công ty? Khách hàng đặt hàng từ đâu? Khách hàng có thể giới thiệu trang web của công ty với bao nhiêu người bạn của mình? Mức độ sẵn sang tiết lộ thông tin cá nhân của khách hàng với công ty? 1.
Đáp ứng mọi nơi, mọi lúc Khách hàng sẽ có thể mua hàng ở mọi nơi, mọi lúc. Bỏ khả năng dự đoán về những mô hình mua. Bỏ qua yếu tố về địa điểm và thời gian, xu hướng này sẽ được thực hiện thông qua các thiết bị truy cập internet di động. Các thiết bị thương mại điện tử di động như những chiếc điện thoại di động đời mới nhất có khả năng truy nhập được mạng internet được sử dụng hết sức rộng rãi.
Lợi ích của thương mại điện tử Hiện nay thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thương mại quốc tế vì đó là phương thức giao dịch nhanh nhất, hiệu quả nhất, cung cấp thông tin cập nhật nhất, tận dụng được tối đa các nguồn lực và đem lại sự tiện dụng nhất cho các bên tham gia.