chương 1, tác giả hệ thống hóa, tóm lược về hệ thống KSNB ở khu vực công; ở chương 2, nghiên cứu đánh giá thực trạng hệ thống KSNB, tác giả dùng bảng câu hỏi khảo sát, phỏng vấn một số cá nhân liên quan cũng như kết hợp với thu thập các dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp luật và văn bản hiện hành làm cơ sở để thống kê, phân tích so sánh, quy nạp nhằm định lượng và định tính về 5 nhân tố có ảnh hưởng đến hệ thống KSNB tại đơn vị; và ở chương 3, bài viết có vận dụng phương pháp quy nạp suy diễn nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống. Tác giả Đậu Thị Thu Hằng (2015), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Cao Đẳng Giao thông vận tải III. Tác giả đã hệ thống hóa các nghiên cứu liên quan có cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI 1992, cập nhật năm 2004; tìm hiểu những vấn đề cụ thể về thực trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện 11 hệ thống kiểm soát nội bộ tại mỗi đơn vị. Bởi vì kiểm soát nội bộ rường Cao Đẳng Giao thông vận tải III đã và đang vận hành còn nhiều tồn tại và chưa có tác giả nào nghiên cứu.
Thông qua Luận văn, tác giả đã trình bày lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị công theo Intosai năm 2004; Khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ; Xây dựng một số giải pháp phù hợp đặc điểm, quy mô nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trường Cao Đẳng Giao thông vận tải III. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hậu (2014), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Bạc Liêu. Luận văn đã nêu cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị công; đưa ra các bài học kinh nghiệm từ các nghiên cứu liên quan đến hệ thống kiểm sót nội bộ trong nước ở đơn vị công; đánh giá được thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Bạc Liêu; đưa ra giải pháp đề nghị giải quyết những mặt chưa làm được qua việc tìm ra nguyên nhân tồn tại nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận từ phương pháp định tính thể hiện qua: Phương pháp luận khoa học về hệ thống hóa, phân loại, khái quát hóa lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ tại khu vực công; Phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan luận văn; Quan sát, đánh giá các hoạt động kiểm soát từ các lãnh đạo, cán bộ, giảng viên và công tác phối hợp giữa các ngành với nhau; Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (Phương pháp quan sát khoa học, phương pháp điều tra): Thống kê mô tả, phân loại và liên kết, kết nối các dữ liệu thứ cấp, sơ cấp.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều đề tài nghiên cứu đơn vị công xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 trong quản lý các quá trình hoạt động, góp phần chung vào các công cụ quản lý trong kiểm soát nội bộ đơn vị. Có thể kể đến một số nghiên cứu: Tác giả Phạm Thiên Hưng (2017), Hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 tại Cục Hải quan Hải Phòng. Bài viết nghiên cứu tài liệu nội bộ của Cục Hải quan và Tổng Cục Hải quan, các văn bản của Bộ Tài chính; chủ 12 yếu sử dụng bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của toàn thể cá nhân Cục Hải quan Hải Phòng về hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 theo 8 nguyên tắc về quản lý chất lượng. Đề tài đánh giả hiệu quả việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 tại đơn vị; xác định những mặt còn hạn chế trong quá trình vận hành hệ thống và nguyên nhân của sự tồn tại; có giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 góp phần vào công tác điều hành và quản lý tại đơn vị, hiện đại hóa phương thức làm việc, làm nền tảng xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015 trong những năm tiếp theo.
Tác giả Hà Thị Bình (2014), Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp về triển khai hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 tại Văn phòng tỉnh Ủy Hòa Bình. Luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, tham khảo ý kiến của các chuyên gia về việc áp dụng và hoàn thiện HTQLCL tại Văn phòng Tỉnh ủy Hòa Bình. Bởi cách thu thập kết quả điều tra bằng phiếu câu hỏi khảo sát thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Mục đích nghiện cứu đánh giá thực trạng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 tại đơn vị và đề ra các giải pháp cải tiến, nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng cung cấp dịch vụ công của đơn vị.
Luận văn đề xuất một số giải pháp: có sự cải tiến quy trình kiểm soát và thực hiện mục tiêu chất lượng; hoàn thiện hệ thống tài liệu và nguồn nhân lực cho hệ thống quản lý; xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và đo lường các quá trình; có triển khai áp dụng kỹ thuật thống kê. Tác giả Đặng Minh Trí (2013), Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo TCVN ISO 9001:2008 trong lĩnh vực hành chính công tại UBND phường Hòa Minh - Quận Liên Chiểu - Thành phố Đà Nẵng. Đề tài được viết theo tư duy quản lý chất lượng theo lý luận cơ bản từ sách TCVN ISO 9001:2008 - Hệ thống quản lý chất lượng - Các yêu cầu do Ban kỹ thuật Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN/TC 176 Quản lý chất lượng và đảm bảo chất lượng biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Đề tài nghiên cứu thực trạng chất 13 lượng dịch vụ và hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ tại UBND phường Hòa Minh trên một số dịch vụ “một cửa” và “một cửa liên thông”.
Tác giả sử dụng các phương pháp điều tra thống kê (khảo sát khách hàng, hỏi ý kiến chuyên gia); các phương pháp tổng hợp thống kê (đồ thị thống kê, phân tổ thống kê); các phương pháp phân tích thống kê (dãy số thời gian, số so sánh,…). Tác giả đã đưa ra một số ý kiến nhằm xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn, qua đó góp phần hoàn thiện công tác quản lý phục vụ cho công tác cải cách hành chính tại đơn vị nghiên cứu. Ngoài ra, một số bài nghiên cứu, phân tích so sánh giữa việc áp dụng TCVN ISO và kiểm soát nội bộ theo khuôn mẫu COSO đều đề cập đến cả hai tiêu chuẩn là một cải tiến mạnh mẽ: Ken Lynch (2018), COSO ERM vs. ISO 31000; Carol Williams (2019), ISO 31000 VS COSO - Comparing and contrasting the World’s leading risk management standards; Reto Brosi (2020), The COSO vs ISO Showdown… Cả hai đều có các nguyên tắc cơ bản và nền tảng của mỗi tiêu chuẩn có những điểm tương đồng và khác biệt, trong đó có nêu về những gì một tiêu chuẩn quản lý rủi ro sẽ giúp tổ chức xác định, đánh giá, xử lý chấp nhận rủi ro ơ mức phù hợp khi theo đuổi các mục tiêu.
Nhưng đơn vị có phải chọn chỉ một? Thêm cân nhắc giữa chi phí và lợi ích mang lại để vận dụng phù hợp? Không, mỗi tiêu chuẩn có chứa những điểm tốt, nhưng không thể lấy và áp dụng riêng đối với cơ quan hành chính nhà nước bởi có qui định triển khai liên quan. Cả hai tiêu chuẩn đều hữu ích để đọc, hiểu, và áp dụng đặc biệt là khi nói đến thực tiễn các cơ quan hành chính Nhà nước, trong đó có UBND phường. Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (HTQLCL) phù hợp theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg với phiên bản của tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000; sau đó được cập nhật, thay thế bằng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại Quyết định số 118/2009/QĐ-TTg ngày 30/9/2009 và ngày 05/03/2014 Thủ tướng ban hành Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 18/5/2014 về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Riêng địa phương kể từ năm 14 2013, hàng năm UBND tỉnh Bình Dương ban hành kế hoạch về kiểm tra công tác cải cách hành chính, trong đó giao Sở Khoa học và Công nghệ tổ chức kiểm tra tình hình xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng.
Ở cấp thành phố, UBND thành phố Thủ Dầu Một giao phòng Kinh tế chủ trì phối hợp trong việc tổ chức triển khai, theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện ở các Phòng ban và đơn vị UBND phường. Bên cạnh đó, hiện nay hoạt động của UBND phường được triển khai thực hiện theo thẩm quyền và căn cứ theo sự chỉ đạo của cơ quan cấp trên là các chính sách, thủ tục kiểm soát luôn song hành là sự tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ. UBND phường thực hiện các chức năng kiểm soát nội bộ hoạt động của mình đóng góp vào thực hiện mục tiêu chung của quản lý nhà nước theo sự phân cấp hoặc phân công phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được pháp luật qui định để đảm bảo là đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành tốt các quy định về quản lý, bảo vệ tài sản nhà nước. Đến thời điểm hiện tại, toàn thành phố có 14/14 UBND phường đã xây dựng, áp dụng và thực hiện công bố HTQLCL phù hợp theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008.
Chính vì do đặc điểm tình hình thực tế yêu cầu là sự có mặt của cả hai trong các chính sách, thủ tục kiểm soát, công tác giám sát hoạt động tại UBND phường. Đây là một lý do trả lời tại sao UBND phường sử dụng kết hợp cả hai tiêu chuẩn. Đồng thời, với cách tiếp cận thực trạng việc ứng dụng hệ thống QLCL trong kiểm soát nội bộ sẽ nhận được sự quan tâm từ các ngành công tác tại UBND phường trên địa bàn xuất phát từ nền tảng đã biết về ứng dụng TCVN ISO 9001:2008 rồi dần sẽ dễ nắm bắt hơn về kiểm soát nội bộ trong đơn vị, bởi nhiều đơn vị chưa hiểu rõ sự tương quan của hệ thống KSNB và hệ thống các ngành chức năng với quy trình hoạt động của tổ chức. Từ đó có cái nhìn khách quan, gần gũi hơn trong việc đánh giá thực trạng về các yếu tố cấu thành đến hệ thống KSNB theo mô hình INTOSAI tại UBND phường.