MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua do tác động của nhiều nguyên nhân trong đó có biến đổi khí hậu nên diễn biến của mưa và triều tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) có nhiều thay đổi: lượng mưa, cường độ mưa ngày một tăng cao, thời gian mưa ngày càng kéo dài, số trận mưa lớn có vũ lượng > 50-100mm ngày càng tăng cao, mức triều trên sông cũng tăng cao 0.34m từ 1,43m năm 2000 nay đã lên tới 1,77m năm 2019 (trạm Phú An). Điều đó đã ảnh hưởng lớn đến tình trạng ngập úng của TP.HCM, gây thiệt hại to lớn cũng như gây trở ngại rất nhiều cho đời sống của người dân TP. Lưu vực Nam Nhiêu Lộc nằm dọc theo kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè có diện tích khoảng 9,7 km2 bao gồm 1 phần các quận 1, quận 3, quận 10 và quận Tân Bình là các quận nằm trong trung tâm của TP.
Phía Đông giáp quận Bình Thạnh và quận 1, phía Tây giáp quận Tân Bình và quận 10, phía Nam giáp quận 1 và quận 3, phía Bắc giáp quận Phú Nhuận. Dân số khu vực thành thị chiếm 81,25%; khu vực nông thôn chiếm 18,75%. Dự kiến dân số chính thức đến năm 2020 là 10 triệu người, trong đó dân số đô thị khoảng 9,3 triệu người. Dự báo số khách vãng lai chiếm khoảng 20 – 25% tổng dân số thành phố vào năm 2020.
Như vậy, sự phân bố dân cư ở TP. HCM không đồng đều, ngay cả các quận nội thành. Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2,7, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 người/km². Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có 107 người/km².
Khu vực TP. Hồ Chí Minh nói chung và lưu vực Nam Nhiêu Lộc nói riêng bị ngập úng không chỉ trong mùa mưa mà còn bị ngập do triều cường nhiều lần trong năm. Một hiện tượng được biết rất rõ là khi mưa to lại gặp triều cường trên mạng kênh rạch thì nước mưa khó tiêu thoát sinh ra ngập úng nhiều vùng; trường hợp này thường xuyên xảy ra với một số khu vực điển hình như lưu vực Nam Nhiêu Lộc thuộc TP Hồ Chí Minh trong mùa mưa. Với một số vùng và đường phố của TP Hồ Chí Minh khi không có mưa cũng bị ngập do triều cường, hoặc bị ngập sau mưa do nước mưa từ nơi khác chuyển tới.
Nhiều nhân tố gây ngập lụt tại nhiều nơi trong TP Hồ Chí Minh như sự thiếu duy tu hạ tầng, địa hình thấp, biến đổi khí hậu làm gia tăng lượng mưa lớn 1 trong thời gian ngắn, thiếu hệ thống chống ngập lụt và thoát nước phù hợp. Có nơi ngập lụt cục bộ kéo dài 10 đến 12 giờ trong mùa mưa. Tình trạng gia tăng liên tục của mực nước trên sông Sài Gòn cùng với những trận mưa có vũ lượng lớn xuất hiện ngày càng thường xuyên, trong khi hệ thống thoát nước và kiểm soát triều vẫn chưa đủ khả năng đáp ứng đã làm cho tình trạng ngập đô thị ở TP. HCM nói chung và lưu vực Nam Nhiêu Lộc nói riêng ngày càng trở nên trầm trọng.
Nam Nhiêu Lộc thuộc vùng thoát nước trung tâm của TP. HCM, với hệ thống thoát nước khá đầy đủ và kênh rạch chằng chịt đổ ra kênh Nhiêu Lộc và sông Sài Gòn rất dễ bị ảnh hưởng bởi mưa lớn và triều cường. Một số vị trí ngập xuất hiện trên địa bàn thành phố sau những trận mưa có vũ lượng trên 40 mm ngay cả khi thủy triều đang ở mức thấp, cho thấy dòng chảy đô thị do mưa lớn vượt quá khả năng thoát nước của cống hiện là tác nhân gây ngập chủ yếu hiện nay. Trước bối cảnh đó, đề tài luận văn “Ứng dụng mô hình Mike Flood đánh giá ngập lụt tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc Thành phố Hồ Chí Minh” được lựa chọn nhằm đưa đến cách tiếp cận giải quyết vấn đề tiêu úng một cách tổng thể có cơ sở khoa học và thực tiễn góp phần giải quyết vấn đề trên một cách toàn diện và lâu dài trên lưu vực Nam Nhiêu Lộc.
Mục tiêu của đề tài - Thiết lập mô hình Mike Flood cho lưu vực nghiên cứu. - Xác định độ sâu ngập lụt, diện tích ngập tại mốt số tuyến đường cụ thể tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc. - Đánh giá tình hình ngập lụt, khả năng thoát nước qua các trận ngập thực tế và các kịch bản thiết kế. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ngập lụt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: mạng lưới tiêu thoát nước lưu vực Nam Nhiêu Lộc (mưa + triều); - Phạm vi nghiên cứu: mô phỏng tình trạng ngập lụt khi xảy ra mưa và triều cường lưu vực Nam Nhiêu Lộc - TP. Hồ Chí Minh; IV. Nội dung nghiên cứu 2 - Nghiên cứu tổng quan, đánh giá tình hình thoát nước và ngập lụt khu vực nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng. Tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Phân tích cơ sở lý thuyết và thực tiễn ứng dụng mô hình Mike Flood đánh giá, dự báo ngập lụt tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh. - Ứng dụng mô hình Mike Flood đánh giá, phân tích ngập lụt tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc, Thành phố Hồ Chí Minh V. Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu Dữ liệu mưa, dữ liệu hệ thống thoát nước, dữ liệu địa hình, dữ liệu bản đồ… phục vụ dữ liệu đầu vào mô hình. Thu thập dữ liệu công trình, dữ liệu liên quan đến luận văn tại những cơ quan như “Phân Viện Khoa Học Khí Tượng Thủy Văn Và Biến Đổi Khí Hậu”, “Công Ty Thoát Nước Đô Thị TPHCM”, “Trung tâm Quản lý hạ tầng kỹ thuật TPHCM”.
Phương pháp kế thừa Kế thừa các thông tin, các công trình, dữ liệu đã nghiên cứu trước đây như kế thừa việc tính toán mưa thiết kế (IDF), kế thừa bộ mô hình thủy lực Mike 11 phạm vi lưu vực sông SG-ĐN. Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết Nghiên cứu nguồn tài liệu: “Mike Urban, Mike Flood Tutorial”, “Hướng dẫn sử dụng ArcMAP 10.x”, các báo cáo liên quan lĩnh vực trước đây, dữ liệu về kinh tế xã hội. Từ đó phân tích và tổng hợp những kiến thức cần thiết. Phương pháp chuyên gia Xin ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực thoát nước, thủy văn, các Thầy cô có kinh nghiệm trong việc tính toán, đánh giá ngập lụt đô thị.
Phương pháp Mô hình hóa Mô hình hóa là phương pháp chính của nghiên cứu nhằm tính toán và đánh giá được mức độ và tình hình ngập lụt tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc. 3 Phương pháp bản đồ Xử lý dữ liệu bản đồ, số hóa hệ thống thoát nước, công trình.và trình bày kết quả như bản đồ ngập. Cách tiếp cận - Tiếp cận hệ thống: vấn đề ngập lụt tại luu vực Nam Nhiêu Lộc đang là nỗi lo lớn của người dân. Các nghiên cứu trước đây về ngập lụt thường mang tính rời rạc, cục bộ.
Để giảm thiểu những tác hại của ngập lụt đến con người, kinh tế, xã hội thì cần phải có những giải pháp mang tính hệ thống, bao gồm việc tính toán, đánh giá khả năng thoát nước, phân tích kết quả tính toán mô hình hóa phục vụ công cụ hỗ trợ ra quyết định. - Tiếp cận cơ sở lý thuyết khoa học, nghiên cứu các tài liệu, các bài báo khoa học… đã được công bố; - Tiếp cận thực tế: khảo sát, nghiên cứu, thu thập các số liệu; - Tiếp cận hệ thống: tiếp cận, tìm hiểu, phân tích hệ thống từ tổng thể đến chi tiết, đầy đủ và hệ thống khoa học; - Tiếp cận và học hỏi các phương pháp nghiên cứu mới trên thế giới. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Là cơ sở để phát triển các nghiên cứu về ngập lụt tại TP.HCM nói chung cũng như lưu vực Nam Nhiêu Lộc nói riêng, qua việc phân tích và đánh giá tình tình ngập tại khu vực nghiên cứu. - Ý nghĩa thực tiễn: Giúp các nhà quản lý cũng như người dân có cái nhìn tổng quan và chi tiết hơn về tình hình ngập lụt, cụ thể là các tuyến đường thường xuyên ngập, cũng như các nguyên nhân dẫn đến ngập lụt và đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ngập lụt, có thể áp dụng vào thực tế.
Kết quả dự kiến đạt được - Xác định được cụ thể các điểm ngập tại lưu vực Nam Nhiêu Lộc - Thành Phố Hồ Chí Minh dựa vào kết quả mô phỏng mô hình Mike Flood (kết hợp Mike Urban). Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ngập lụt tối ưu và hiệu quả. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới Đô thị ngày càng chứng kiến tình trạng ngập lụt vốn được xem là một trong các hệ quả của mực nước biển dâng và mưa lớn ảnh hưởng bởi hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKH); và sự phát triển thiếu bền vững của môi trường xây dựng. Thiệt hại do ngập ngày càng nghiêm trọng tại các thành phố lớn khi sự tập trung con người và tài sản vào các khu trung tâm ngày càng lớn.
Theo nghiên cứu của Doocy S.811 thiệt hại về con người do ngập lụt trên thế giới từ 1980 đến 2009. Năm 2014, 54% dân số thế giới hiện đang sống tại các các đô thị, và dự báo sẽ tăng lên 66% vào năm 2050 (UN, 2014). Đồng thời, các đô thị ngày càng phát triển lớn hơn, nhất là các thủ phủ; điển hình, mức đô thị hóa của Mỹ đã tăng khoảng 22% sau 50 năm kể từ chiến tranh thế giới thứ 2 [22]. Năm 2010, có 611 thành phố có dân số lớn hơn 750.000 dân, trong đó có 167 thành phố có dân số đã tăng lên 10 – 20 lần so với những thập niên 1960 [26].
Xu hướng này càng dễ tạo ra những khu vực rủi ro đến tính mạng, tài sản của người dân và như môi trường đầu tư một khi thảm họa xảy ra. Đây là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của giới khoa học cũng như cộng đồng. Lũ lụt được xem là một trong những loại thiên tai đã và đang trở thành một thách thức lớn đối với quá trình phát triển của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Các biến cố liên quan đến ngập lụt đã xảy thường xuyên với cường độ ngày càng nhiều hơn ở khu vực châu Á từ 1975 – 2002 [20].