MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ các loại phương tiện hiện đại như: máy ảnh số, máy quay phim kỹ thuật số, máy vi tính ngày càng đa dạng về chủng loại thì lượng thông tin con người thu được dưới dạng hình ảnh là rất dễ dàng. Xử lý hình ảnh là một trong những lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng được phổ biến trong đời sống xã hội. Các thiết bị ghi hình có thể thấy và hiểu được thế giới xung quanh.
Nguyên do thiết bị xử lý được xây dựng và phát triển dựa trên sự tiến bộ trong các thuật toán phân tích, làm giàu dữ liệu (Data augmentation) và chọn lọc hình ảnh. Nếu có tiếp cận phù hợp, ta luôn nhận thấy rằng những thành tựu của Khoa học, công nghệ đã dần đang giải quyết được hầu hết các vấn đề của cuộc sống, đặc biệt là lĩnh vực Y học hiện nay. Nhận dạng các đối tượng dựa trên ảnh không phải là vấn đề mới của ngành xử lý ảnh. Tuy nhiên, áp dụng vào bài toán nhận dạng phát hiện trái dứa chín trong lĩnh vực nông nghiệp là một đề xuất mới của nhóm nghiên cứu.
Hiện nay, trên thế giới có các mô hình đã nghiên cứu về nhận dạng hình ảnh như: YOLO, CNN, R-CNN, Fast R-CNN, Faster R-CNN và mô hình Mask R- CNN [1,2,3,4,5]. Tuy nhiên, trong các mô hình này chưa có nhiều nghiên cứu trực tiếp liên quan đến nhận dạng thời kỳ trái chín, chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào nhận dạng văn bản, nhận dạng khuôn mặt, vân tay và một số nghiên cứu nhận dạng con vật nuôi. Trong nông nghiệp thông minh và nông nghiệp chính xác, vấn đề ước tính kịp thời và chính xác thời kỳ trái chín của vườn cây sẽ giúp cải thiện và nâng cao chất lượng, đảm bảo sản lượng trái cây và kế hoạch thu hoạch. Ngoài ra, xác định kịp thời và chính xác thời kỳ trái chín trong các giai đoạn trưởng thành cây quả sẽ cho phép giảm chi phí canh tác, chi phí lưu trữ sau thu hoạch và làm tăng giá trị kinh tế, đáp ứng yêu cầu thị trường.
Đây là những vấn đề rất được quan tâm trong 1 định hướng phát triển nông nghiệp tận dụng lợi thế của công nghệ cao trong thời gian tới ở Việt Nam. Số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết đến năm 2020, diện tích trồng cây ăn quả chủ lực của Việt Nam là 257.000 ha, chiếm 52% tổng diện tích quy hoạch cây ăn quả ở Nam bộ, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) 185.100 ha, vùng Đông Nam bộ 71. Trong khu vực này, hiện nay chú trọng trồng 12 loại cây ăn quả chủ lực gồm: Thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, bưởi, nhãn, chuối, dứa, cam, mãng cầu và quýt. Trong dữ liệu Bảng 1 và Bảng 2 đưa ra thống kê diện tích trồng cây ăn quả và sản lượng thu hoạch cây ăn từ năm 2015 đến năm 2018.
Có thể nhận thấy diện tích trồng và sản lượng thu hoạch tăng lên đáng kể, mang hiệu quả kinh tế xã hội. Đặc biệt, khi ngày càng có nhiều nông dân và trang trại nông nghiệp có diện tích trồng lớn tham gia chuỗi sản xuất và xuất khẩu. Ở Việt Nam cây dứa được trồng khá phổ biến, phân bố từ Phú Thọ đến Kiên Giang. Tiền Giang là Tỉnh hiện nay có sản lượng dứa đứng đầu cả nước.
Năm 2019, sản lượng dứa của tỉnh Tiền Giang đạt 211. Tiếp theo là Kiên Giang (185.000 tấn), Ninh Bình (150.400 tấn), Nghệ An (130.600 tấn), Long An (127.000 tấn), Hà Nam (123.400 tấn), Thanh Hoá (120.500 tấn), Quảng Nam (112. Tổng sản lượng cả nước năm 2019 đạt 12. Nhiều địa phương đã xây dựng thương hiệu đặc sản trái dứa như dứa Đồng Giao (Tam Điệp - Ninh Bình), hoặc ở Kiên Giang, Tiền Giang đều có những nhà máy chuyên sản xuất, chế biến các thực phẩm từ trái dứa.
Bảng số liệu thống kê diện tích đất trồng cây ăn trái (Đơn vị tính: 1.000 m2) STT Cam, Vải, Chôm Bưởi, theo Dứa Chuối Xoài Nhãn quýt chôm Bòng năm 2015 6,7 9,7 133 83,7 73,3 90,6 51,7 2016 7,4 0,5 138,6 86,7 73,3 87,8 60 2 2017 10 1 140,2 92,7 75,6 86,5 66,5 2018 20 2 140 95 71 90 64 Bảng 2 Bảng số liệu thống sản lượng cây ăn trái (Đơn vị tính: 1.000 tấn) STT Cam, Vải, Chôm Bưởi, theo Dứa Chuối Xoài Nhãn quýt chôm Bòng năm 2015 566,1 578,2 1.100 795 520 650 525 Hiện nay, Dứa đã trở thành một trong những loại cây ăn trái phổ biến nhất trên thế giới. Được xác định là cây trồng chủ lực của các xã vùng núi huyện Đại Lộc (Quảng Nam) huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, từ năm 2009, cây dứa đã trở thành nguồn thu nhập chính của hầu hết các hộ gia đình nơi đây. Dứa là một loại cây trồng trên các loại đất vườn, đồi trong đó có đất trồng đồi trọc. Dứa dễ trồng, sản xuất và dễ tiêu thụ, nhu cầu thị trường cần nhiều có thể được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Việt Nam phát triển dứa trên cả ba miền bắc trung nam và việc trồng kinh doanh dứa được phổ biến các hộ, trang trại cho tới doanh nghiệp. Mặc dù việc phát triển sản xuất dứa có nhiều lợi thế như điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn lao động phong phú tuy nhiên bị phụ thuộc vào thị trường trên khu vực và trên thế giới. Do thị trường điều chỉnh về quy mô, chất lượng, giá cả, … Một phần do chất lượng nông sản dứa chưa đạt các điều kiện. Các hộ, trang trại tại Việt Nam trồng dứa chủ yếu là sử dụng nguồn nhân lực truyền thống và sử dụng kinh nghiệm có từ nhiều năm trước, chưa ứng dụng các công nghệ kỹ thuật vào quá trình trồng trọt hay thu hoạch.
Không đảm bảo chất lượng đầu ra tiêu thụ. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh về giá cả và chất lượng xuất khẩu sang thị trường Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và cả Trung Quốc, cần phải đưa các 3 công nghệ hỗ trợ cho việc nâng cao chất lượng nhờ xác định đúng, trúng và sát với thực tế thời kỳ trái chín, nhờ vậy giảm chi phí bảo quản trái cây sau thu hoạch, góp phần luân canh tăng vụ. Ngoài ra, nhận biết trái chín cũng giúp giảm chi phí sản xuất, nhờ xác định lượng nước, lượng phân bón cho giai đoạn cuối mùa phù hợp. Đây là một bài toán rất quan trọng và cần thiết cho ngành nông nghiệp ở Việt Nam.
Qua khảo sát thực tế tại các trang trại nông nghiệp, công việc nhận biết thời kỳ trái Dứa chín và trái Dứa chưa chín cần tiếp tục được chăm sóc, hoàn toàn làm bằng thủ công, theo kinh nghiệm dân gian truyền thống. Do vậy, tốn công sức và nếu không nhận biết trái chín kịp thời, tỷ lệ tổn thất sản lượng thu hoạch sẽ rất lớn. Xuất phát từ nhưng đặc điểm trên đề tài “Nghiên cứu ứng dụng mô hình học sâu trong nhận biết thời kỳ trái dứa chín cho các vùng trồng dứa tại Việt Nam” sẽ góp một phần giải quyết bài toán này. Việc nhận biết thời kỳ trái chín dựa vào xử lý và nhận dạng hình ảnh camera quan sát vùng canh tác cây ăn quả.
Từ hình ảnh sẽ trích ra các phần ảnh quả. Hệ thống học sâu sẽ nhận dạng phân loại mức độ chín của quả yêu cầu. Để đạt độ chính xác nhận dạng, hệ thống cần phải được huấn luyện với một tập mẫu ảnh quả đủ lớn, đa dạng về kích thước, màu sắc, góc nhìn với các điều kiện thực tế thu thập ảnh (độ sáng, độ chói, góc khuất, …) khác nhau. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung - Luận văn của tôi hướng tới việc nghiên cứu một mô hình có chức năng nhận dạng, chọn lọc đối tượng thông qua hình ảnh thu được và từ đó khuyến nghị nhận dạng các đối tượng, từ vùng trồng dứa, hay các đại lý thu mua nông sản, hay áp dụng tại các siêu thị bán trái cây nông sản.2 Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu xác định mô hình học sâu phù hợp nhận dạng hình ảnh giải quyết bài toán nhận biết thời kỳ trái dứa chín.
- Nghiên cứu các mô hình học sâu: CNN, AlexNet, VGGNet – VGG16 4 - Nghiên cứu các mô hình học sâu 1 giai đoạn: YOLOv3, YOLOv4, YOLO- tiny - Nghiên cứu các mô hình học sâu 2 giai đoạn: R-CNN, Fast R-CNN, Faster R-CNN, Mask R-CNN. - Nghiên cứu các framework: COCO dataset, Keras, Tensorflow, TFLite. - Qua quá trình phân tích các ưu và nhược của các mô hình học sâu đề xuất chọn mô hình học sâu phù hợp nhận dạng hình ảnh giải quyết bài toán nhận biết thời kỳ trái Dứa chín. Ngoài ra, tôi tìm hiểu các công đoạn xử lý nhận dạng hình ảnh webcam, camera thực.
- Nghiên cứu các giống dứa phổ biến khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng và các đặc điểm sinh hóa của trái dứa thời kỳ chín. - Tình hình các loại dứa được trồng trên thế giới và Việt Nam; tình hình trái dứa được trồng tại các vùng canh tác thuộc tỉnh Quảng Nam – thành phố Đà Nẵng; - Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây dứa; đặc điểm phân loại; đặc điểm về hình thái; giải phẫu; đặc điểm về sinh lý; sinh hóa của trái dứa; đặc điểm sinh trưởng và phát triển; đặc điểm các thành phần dinh dưỡng; - Quá trình biến đổi của trái dứa: Thời điểm ra hoa và kết quả; Quá trình biến đổi từ trái xanh tới trái chín; Nghiên cứu đặc điểm mùi vị và màu sắc của trái dứa khi biến đổi; chất lượng của trái khi biến đổi. - Việc áp dụng các giải pháp kỹ thuật, độ chính xác của mô hình nhận dạng phụ thuộc vào đề xuất giải pháp phù hợp với đặc điểm của đề tài. Do đó, tôi đã áp dụng các kỹ thuật mạng nơ ron tích chập (Fast R-CNN cải tiến), cài đặt, thực nghiệm và so sánh đánh giá.
Trong đó, các mô hình có độ phức tạp tăng dần theo thứ tự như sau: - Mô hình 1: Áp dụng bộ lọc Gauss 3 chiều để giữ lại điểm ảnh có màu lân cận với màu của thời kỳ trái chín để nhận dạng. Thực hiện phép đếm các đối tượng còn lại trên ảnh. - Mô hình 2: Lọc tách các điểm ảnh có màu đặc trưng của trái dứa dựa trên mạng nơ-ron (Neural networks) truyền thẳng. Thực hiện phép đếm các đối tượng còn lại trên ảnh.
5 - Mô hình 3: Áp dụng phương pháp phân loại đối tượng bằng Support Vector Machine (SVM) để lọc màu. Thực hiện phép đếm các đối tượng còn lại trên ảnh.