Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghề chăn nuôi lợn rừng tại Việt Nam phát triển theo định hướng đa dạng hóa vật nuôi đặc sản, mở ra hướng sinh kế cho nông hộ khu vực miền núi. Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi lợn rừng bản địa và con lai giữa lợn rừng với lợn địa phương đang gặp nhiều rào cản sinh sản. Trong điều kiện tự nhiên, lợn rừng (Sus scrofa) có tính chu kỳ sinh sản khắt khe, thường chỉ động dục tập trung từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, mỗi lứa chỉ đẻ 5 - 6 con. Khi đưa vào chăn nuôi bán thâm canh hoặc nuôi nhốt, lợn nái rừng thường có biểu hiện động dục thầm lặng, chậm động dục trở lại sau cai sữa, tỷ lệ thụ thai thấp hoặc đẻ ít con. Dù các giống lợn rừng nhập từ Thái Lan có khả năng sinh sản tốt hơn, chất lượng thịt thương phẩm lại không được thị trường ưa chuộng bằng dòng lợn rừng Việt Nam. Nhằm chủ động điều khiển sinh sản và nâng cao năng suất đàn nái, khóa luận đã thực hiện nghiên cứu ứng dụng chế phẩm kích dục tố trên đàn lợn rừng nái sinh sản.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định gồm hai nội dung:

  1. Xác định được việc sử dụng kích dục tố để nâng cao sức sản xuất của lợn nái rừng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn rừng, tạo tiền đề phát triển chăn nuôi lợn rừng cho người dân khu vực miền núi.
  2. Rèn luyện được tay nghề chuyên môn sau khi hoàn thành chương trình lý thuyết trên giảng đường.

Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung giải quyết hai vấn đề: đánh giá ảnh hưởng của kích dục tố đến các chỉ tiêu sinh lý sinh dục (tỷ lệ động dục, thời gian động dục trở lại, biểu hiện động dục, số con đẻ ra/lứa, khối lượng và khả năng sinh trưởng của lợn con) và tính toán hiệu quả kinh tế thông qua tiêu tốn, chi phí thức ăn trên mỗi kilôgam lợn con cai sữa.

Đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái rừng lai F1 (con lai giữa đực rừng và lợn nái địa phương) ở lứa đẻ thứ 3 đến thứ 5. Phạm vi không gian nghiên cứu được tiến hành tại Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa. Phạm vi thời gian thực hiện kéo dài từ ngày 15/12/2014 đến ngày 24/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về sinh lý sinh sản của gia súc cái thuộc loài lợn rừng (Sus scrofa). Chu kỳ động dục bình thường ở lợn kéo dài trung bình 21 ngày (biến động 18 - 25 ngày), chia làm 4 giai đoạn: trước động dục (2 - 3 ngày), động dục (3 - 5 ngày), sau động dục (1 - 2 ngày) và giai đoạn yên tĩnh (8 - 9 ngày). Cơ chế điều tiết sinh sản sử dụng trong thí nghiệm dựa trên tác động hiệp đồng của các hormone sinh dục ngoại sinh:

  • Prostaglandin: Hoạt chất có chức năng thể tiêu (thủy phân thể vàng tồn lưu trên buồng trứng), giải phóng ức chế thể dịch để kích thích các noãn nang phát triển bước vào chu kỳ mới, tạo sự cảm ứng động dục đồng loạt.
  • Gonadotropin kết hợp Oestradiol: Gonadotropin chứa hai hormone hướng sinh dục là FSH (kích thích tế bào nang noãn phát triển và chín) và LH (kích thích noãn chín rụng và hình thành thể vàng mới). Oestradiol đóng vai trò kích thích phát triển ống dẫn sinh dục, làm xuất hiện các hưng phấn thần kinh và triệu chứng lâm sàng của giai đoạn chịu đực.
  • Vitamin ADE: Hỗ trợ tái tạo niêm mạc tử cung, chống oxy hóa, kích thích chức năng buồng trứng và chuẩn bị thể trạng tiếp nhận hợp tử.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm áp dụng theo mô hình phân lô so sánh, kiểm soát đồng đều các yếu tố về giống, lứa đẻ (lứa 3 - 5), thể trạng và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng. Thí nghiệm gồm 2 lô:

  • Lô thí nghiệm (TN): Gồm 10 lợn nái rừng lai F1. Ngay sau khi cai sữa lợn con, mỗi nái được tiêm đồng thời: 1 ml Hormone Prostaglandin vào bắp gốc tai trái, 4 ml Hormone Gonadotropin + Oestradiol vào bắp gốc tai phải, và 4 ml Vitamin ADE vào bắp đùi sau. Dụng cụ tiêm là xi lanh sắt, mũi kim 16 dài.
  • Lô đối chứng (ĐC): Gồm 10 lợn nái rừng lai F1 có cùng đặc điểm nền, không sử dụng bất kỳ loại kích dục tố nào sau khi cai sữa.

Chế độ dinh dưỡng áp dụng thức ăn hỗn hợp gồm ngô, cám mỳ/cám gạo, thức ăn đậm đặc, muối ăn, kết hợp thức ăn thô xanh (thân cây chuối thái mỏng, cỏ voi, ngô dày). Quy trình phòng bệnh thú y thực hiện nghiêm ngặt bằng các loại vaccine: dịch tả lợn nhược độc chủng C (tiêm ngày chửa thứ 70 cho nái, 30 và 60 ngày tuổi cho lợn con), lở mồm long móng FMD (tiêm ngày chửa thứ 84 cho nái, 75 ngày tuổi cho lợn con), tụ huyết trùng - đóng dấu đa giá (tiêm lúc 65 ngày tuổi cho lợn con), PRRS (toàn đàn định kỳ tháng 4 và tháng 10), Farrowsure (ngày chửa thứ 90) và tẩy ký sinh trùng bằng Hanmectin (ngày chửa 100 - 105).

Toàn bộ dữ liệu theo dõi được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2002) trên phần mềm Microsoft Excel và máy tính Casio FX-500, xác định các giá trị trung bình cộng ($\bar{X}$), sai số trung bình ($m_x$) và hệ số biến dị ($C_v%$).

Nội dung chính theo từng chương

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm khắc phục tập tính sinh sản hoang dã của đàn lợn rừng tại miền núi phía Bắc. Nội dung phần này xác định mục tiêu kép: giải quyết bài toán nâng cao năng suất sinh sản cá thể và rèn luyện kỹ năng thực hành nghề chăn nuôi thú y cho sinh viên. Ý nghĩa khoa học làm sáng tỏ cơ chế tác động của kích dục tố ngoại sinh trên lợn rừng lai; ý nghĩa thực tiễn cung cấp cơ sở cho các cơ sở giống và nông hộ tháo gỡ điểm nghẽn chậm động dục, nâng cao tỷ lệ sống của đàn con và tăng số lứa đẻ/năm.

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học về nguồn gốc, phân loại học của loài lợn rừng (Sus scrofa) gồm 21 phụ loài và 36 giống trên thế giới. Tác giả đối chiếu hai dòng lợn rừng phổ biến ở Việt Nam: lợn rừng Thái Lan (thân ngắn, béo, má phệ, chân xoạc, lông ngắn) và lợn rừng Việt Nam (mình thon dài, chân cao, má gọn, bờm dài, sọc dưa vàng đậm nét lúc sơ sinh). Phần này đi sâu mô tả giải phẫu cơ quan sinh dục cái, sinh lý chu kỳ rụng trứng, động thái nồng độ hormone trong huyết thanh (oestrogen đạt đỉnh 29 - 30 pg/ml ở ngày 20 - 21, progesterone duy trì mức 32 ng/ml giai đoạn đầu rồi giảm xuống 0,8 - 1 ng/ml lúc động dục). Chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu trong nước (Lê Xuân Cương, Lê Văn Thọ, Nguyễn Mạnh Hà) và quốc tế (Konhiucova, Klinxki, Kotovski) về việc sử dụng PMSG, HCG, HTNC trong việc phục hồi khả năng sinh sản của đàn nái vô sinh hoặc chậm động dục.

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả chi tiết hóa thiết kế thí nghiệm phân lô trên 20 lợn nái rừng lai F1 tại Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển động thực vật bản địa từ tháng 12/2014 đến tháng 05/2015. Nội dung bao gồm công tác phục vụ sản xuất (chăm sóc nuôi dưỡng lợn đực giống, nái mang thai, nái đẻ, lợn con, lợn thịt và công tác phòng trừ dịch bệnh) kết hợp triển khai chuyên đề tiêm kích dục tố. Tác giả chuẩn hóa chi tiết khẩu phần ăn theo từng thời kỳ: giai đoạn chờ phối (ngày cai sữa nhịn ăn, các ngày sau ăn 1,2 kg thức ăn tinh + 2 kg thân chuối/ngô; khi động dục giảm xuống 0,6 kg tinh); giai đoạn chửa kỳ I (0,6 kg tinh + 2 kg thức ăn xanh); giai đoạn chửa kỳ II (tăng 20% dinh dưỡng, đạt 1,0 kg tinh + 2 kg xanh); giai đoạn nuôi con (0,6 - 1,0 kg tinh tùy khối lượng mẹ và số con đẻ ra). Phác đồ tiêm 3 mũi hormone cùng vị trí giải phẫu gốc tai, bắp đùi được quy định cụ thể.

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương này chia làm hai mảng nội dung chính:

  • Kết quả công tác phục vụ sản xuất: Sinh viên tham gia ghép đôi phối giống trực tiếp cho 15 lợn nái, đạt 13 con thụ thai (tỷ lệ 86,66%); tuyển chọn được 14 lợn đực giống và 20 nái hậu bị đạt ngoại hình cung ứng cho địa phương; chăm sóc 4 đàn lợn thịt gồm 64 con. Trong công tác thú y, sinh viên đã tham gia tiêm phòng dịch tả lợn cho 152 con (3 đực, 19 nái, 130 thịt), tụ dấu cho 142 con (3 đực, 19 nái, 120 thịt), lở mồm long móng cho 22 con (3 đực, 19 nái), tai xanh cho 120 con (3 đực, 10 nái, 117 thịt). Điều trị thành công bệnh lợn con phân trắng trên 95 ca (khỏi 90 con, tỷ lệ 94,73% với các phác đồ Ampi-Coli, Chlorocid-100, Biotycoson), điều trị tiêu chảy trên 35 ca (khỏi 35 con, tỷ lệ 100% bằng lá ổi, Norfacoli, Berberin), điều trị hội chứng hô hấp trên 9 ca (khỏi 8 con, tỷ lệ 88,89% bằng Genta-tylo 50 và Hanflo LA).
  • Kết quả nghiên cứu chuyên đề: Kích dục tố giúp rút ngắn rõ rệt thời gian lên giống lại sau cai sữa; 100% nái lô TN động dục trong vòng 3 - 5 ngày, trong khi lô ĐC phân tán kéo dài đến trên 12 ngày. Biểu hiện động dục ở lô TN rõ rệt hơn về cả phản xạ thần kinh và biến đổi cơ quan sinh dục ngoài, khắc phục hiện tượng động dục thầm lặng. Năng suất con đẻ ra/lứa ở lô TN cao hơn lô ĐC 11,27%. Khối lượng lợn con và các chỉ tiêu sinh trưởng tuyệt đối, tương đối không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi thuốc. Về kinh tế, việc rút ngắn thời gian chờ phối và tăng quy mô ổ đẻ giúp giảm tiêu tốn thức ăn 8,89% và giảm chi phí thức ăn kèm kích dục tố 7,12% trên mỗi kilôgam lợn con cai sữa.

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Tác giả đúc kết 5 kết luận cốt lõi xác nhận tính hiệu quả của phác đồ kích dục tố đối với chu kỳ động dục, triệu chứng lâm sàng, số lượng con sơ sinh và chỉ số kinh tế. Phần tồn tại chỉ rõ giới hạn về dung lượng mẫu nghiên cứu (20 nái) và chưa theo dõi lặp lại qua các mùa vụ khác nhau trong năm để bao quát biến động nhiệt độ miền núi.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu thực nghiệm đã thu thập và đối chiếu các chỉ tiêu năng suất sinh sản và kinh tế kỹ thuật giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng:

STT Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị tính Lô thí nghiệm (TN) Lô đối chứng (ĐC) So sánh TN/ĐC (%)
1 Số lợn nái theo dõi Con 10 10 -
2 Tỷ lệ nái động dục trở lại % 100 100 100,00
3 Tỷ lệ động dục lại trong 3 - 5 ngày % 100 (10 con) 0 (0 con) -
4 Tỷ lệ động dục lại trong 6 - 8 ngày % 0 (0 con) 50 (5 con) -
5 Tỷ lệ động dục lại trong 9 - 12 ngày % 0 (0 con) 40 (4 con) -
6 Tỷ lệ động dục lại sau >12 ngày % 0 (0 con) 10 (1 con) -
7 Số con đẻ ra/lứa Con 7,90 ± 0,59 7,10 ± 0,51 111,27
8 Số con còn sống sau 24 giờ Con 7,80 ± 0,53 7,00 ± 0,44 111,43
9 Số con sống đến 21 ngày tuổi Con 7,50 ± 0,52 6,68 ± 0,41 112,28
10 Số con sống đến 35 ngày (cai sữa) Con 7,10 ± 0,39 6,50 ± 0,36 109,23
11 Số con sống đến 56 ngày tuổi Con 7,00 ± 0,44 6,40 ± 0,39 109,38
12 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa % 89,74 91,43 98,15
13 Khối lượng sơ sinh bình quân kg/con 0,71 0,80 88,75
14 Khối lượng cai sữa lúc 35 ngày kg/con 3,16 3,24 97,53
15 Khối lượng lúc 56 ngày tuổi kg/con 5,13 5,28 97,16
16 Sinh trưởng tuyệt đối (0 - 56 ngày) g/con/ngày 78,91 80,89 97,56
17 Tổng thức ăn cho mẹ và con kg 1494,34 1539,49 97,07
18 Tổng khối lượng lợn con lúc cai sữa kg 224,36 210,60 106,53
19 Tiêu tốn thức ăn/kg con cai sữa kg 6,66 7,31 91,11
20 Chi phí thức ăn + kích dục tố/kg cai sữa Đồng 46.082,60 49.615,24 92,88

Các giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật được tác giả đề xuất:

  • Khuyến cáo các cơ sở chăn nuôi lợn rừng nái sinh sản ứng dụng phác đồ tiêm kết hợp Prostaglandin (1 ml gốc tai trái), Gonadotropin + Oestradiol (4 ml gốc tai phải) cùng Vitamin ADE (4 ml bắp đùi) ngay sau khi cai sữa để kích thích động dục tập trung, giảm ngày lãng phí thức ăn chờ phối.
  • Tăng cường kiểm tra triệu chứng thần kinh và phản xạ chịu đực (mê ì, âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang hồng nhạt và thâm tái) vào thời điểm cuối ngày thứ hai hoặc sáng ngày thứ ba sau khi phát hiện động dục để tiến hành phối giống đạt tỷ lệ thụ thai cao nhất.
  • Bổ sung dinh dưỡng giai đoạn nuôi con và thức ăn kích sữa (như đu đủ xanh nấu chín) cho những nái tiết sữa kém để đảm bảo độ đồng đều của đàn con.

Về mặt đóng góp khoa học so với các nghiên cứu trước đây: Các công trình của Lê Xuân Cương (1974, 1986), Lê Văn Thọ (1979), Nguyễn Mạnh Hà (1997, 2005) chủ yếu thử nghiệm huyết thanh ngựa chửa (HTNC) hoặc PMSG đơn lẻ trên lợn ngoại Đại Bạch, Yorkshire, hoặc lợn nội Móng Cái vô sinh, chậm sinh. Khóa luận này mở rộng đối tượng nghiên cứu sang lợn rừng lai F1 nuôi nhốt tại miền núi phía Bắc, đồng thời kiểm chứng sự kết hợp đồng thời giữa hormone phá thể vàng (Prostaglandin) và hormone kích nang noãn/kích dục (Gonadotropin + Oestradiol), chứng minh tính khả thi trong việc rút ngắn thời gian lên giống mà không gây ảnh hưởng tiêu cực tới sinh trưởng thể trọng của lợn con.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định các hạn chế kỹ thuật:

  • Dung lượng mẫu thí nghiệm còn hạn chế, mới thực hiện theo dõi trên 20 lợn nái (10 nái thí nghiệm và 10 nái đối chứng) do điều kiện quy mô đàn nái sinh sản tại trại.
  • Nghiên cứu chỉ được tiến hành trong một đợt thời gian từ tháng 12/2014 đến tháng 05/2015, chưa lặp lại thí nghiệm qua các mùa vụ thời tiết khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa hè nắng nóng) để đánh giá đầy đủ tác động của nhiệt độ môi trường tới hiệu lực của hormone và sinh lý sinh sản của lợn rừng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô đàn thí nghiệm trên nhiều nhóm tuổi và lứa đẻ khác nhau, đồng thời triển khai thử nghiệm so sánh các mức liều lượng kích dục tố khác nhau nhằm xác định công thức liều tối ưu nhất cho từng dòng lợn rừng lai bản địa.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y: Tài liệu cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ, cấu trúc thiết kế một đề tài phân lô so sánh chuẩn mực, cách xử lý số liệu thống kê sinh vật học và các phác đồ điều trị bệnh lâm sàng thường gặp ở lợn (phân trắng, tiêu chảy, hô hấp).
  • Kỹ sư chăn nuôi, cán bộ khuyến nông và các chủ trang trại nuôi lợn rừng: Cung cấp quy trình định lượng thức ăn theo từng giai đoạn sinh lý (chờ phối, chửa kỳ I, chửa kỳ II, nuôi con), phác đồ phối hợp kích dục tố và kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn nái rừng dữ tợn.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Bảng 4.4, Bảng 4.5, Bảng 4.6 và Bảng 4.10, phản ánh trung thực mối liên hệ giữa việc can thiệp nội tiết tố với thời gian động dục, biểu hiện lâm sàng, số lượng con đẻ ra và hiệu quả hạ giá thành sản xuất con giống.

Câu hỏi thường gặp

1. Phác đồ sử dụng kích dục tố cho lợn nái rừng trong nghiên cứu được tiến hành cụ thể như thế nào?

Ngay sau khi cai sữa lợn con, lợn nái ở lô thí nghiệm được tiêm đồng thời ba mũi thuốc bằng xi lanh sắt và kim 16 dài tại các vị trí cơ thể khác nhau:

  • Mũi 1: 1 ml Hormone Prostaglandin tiêm bắp gốc tai bên trái (cách gốc tai 3 cm, dưới đường sống lưng 5 cm).
  • Mũi 2: 4 ml Hormone Gonadotropin + Oestradiol tiêm bắp gốc tai bên phải.
  • Mũi 3: 4 ml Vitamin ADE tiêm sâu vào bắp đùi chân sau.

2. Việc tiêm kích dục tố làm thay đổi thời gian động dục trở lại của lợn nái sau cai sữa ra sao?

Kích dục tố rút ngắn thời gian lên giống rõ rệt: 100% nái ở lô thí nghiệm (10/10 con) đều động dục trở lại trong khoảng 3 - 5 ngày sau khi cai sữa. Ngược lại, ở lô đối chứng (không tiêm), không có con nào động dục trong khoảng 3 - 5 ngày; 50% nái động dục ở khoảng 6 - 8 ngày; 40% nái động dục ở khoảng 9 - 12 ngày; và 10% nái phải sau hơn 12 ngày mới động dục trở lại.

3. Biểu hiện động dục lâm sàng của lợn rừng nái khi dùng kích dục tố có điểm gì khác biệt so với để tự nhiên?

Lợn nái rừng nuôi tự nhiên thường biểu hiện động dục thầm lặng, khó nhận biết. Khi tiêm kích dục tố, các biểu hiện thần kinh xuất hiện sớm và mãnh liệt hơn: lợn đi lại nhiều, kêu la, hưng phấn, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác. Giai đoạn chịu đực kéo dài 12 - 20 giờ, lợn có phản xạ đứng ì rõ nét khi ấn tay lên lưng hoặc khi con đực tiếp cận. Âm hộ sưng to, xung huyết chuyển dần từ hồng tươi sang hồng nhạt, thâm tái và tiết dịch niêm dịch bám đuôi, giúp người chăn nuôi dễ phát hiện thời điểm phối giống thích hợp.

4. Năng suất con đẻ ra và khối lượng lợn con giữa lô thí nghiệm và lô đối chứng chênh lệch thế nào?

Về số lượng con: Lô thí nghiệm đạt bình quân 7,90 ± 0,59 con sơ sinh/lứa (lô đối chứng đạt 7,10 ± 0,51 con/lứa, cao hơn 11,27%); số con sống sau 24 giờ đạt 7,80 con (đối chứng 7,00 con); số con sống đến cai sữa 35 ngày đạt 7,10 con (đối chứng 6,50 con). Về khối lượng: Lợn con lô thí nghiệm có khối lượng sơ sinh bình quân 0,71 kg/con (đối chứng 0,80 kg/con) và lúc cai sữa 35 ngày là 3,16 kg/con (đối chứng 3,24 kg/con). Sự chênh lệch nhẹ về khối lượng này không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$), nguyên nhân do ổ đẻ ở lô thí nghiệm đông con hơn.

5. Hiệu quả kinh tế của việc can thiệp kích dục tố được chứng minh qua những con số nào?

Nhờ rút ngắn những ngày chờ phối không sản xuất và tăng số lợn con cai sữa trên mỗi ổ, lô thí nghiệm có tiêu tốn thức ăn trên mỗi kilôgam lợn con cai sữa là 6,66 kg, thấp hơn 8,89% so với mức 7,31 kg của lô đối chứng. Chi phí tổng hợp gồm thức ăn và tiền kích dục tố tính trên 1 kg lợn con cai sữa ở lô thí nghiệm là 46.082,60 đồng, thấp hơn 7,12% (tiết kiệm 3.532,64 đồng/kg) so với chi phí 49.615,24 đồng của lô đối chứng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ma Khắc Võ đã giải quyết được vấn đề thực tiễn về hạn chế sinh sản ở lợn nái rừng lai nuôi nhốt thông qua ứng dụng phác đồ phối hợp Prostaglandin, Gonadotropin, Oestradiol và Vitamin ADE. Kết quả nghiên cứu chứng minh can thiệp hormone giúp 100% nái động dục tập trung sau 3 - 5 ngày cai sữa, tăng biểu hiện chịu đực rõ rệt và nâng quy mô ổ đẻ lên 7,90 con/lứa. Phương pháp này không làm ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng bình thường của lợn con, đồng thời giúp hạ 7,12% chi phí sản xuất trên mỗi kilôgam lợn con giống cai sữa. Công trình là tài liệu thực nghiệm có độ tin cậy cao, đóng góp quy trình kỹ thuật cụ thể cho nghề chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại các tỉnh trung du và miền núi.