Đặt vấn đề Hiện nay, chăn nuôi lợn rừng đang phát triển ở nhiều nơi và trở thành một hướng phát triển kinh tế cho bà con nông dân. Trong chăn nuôi lợn rừng, nhiều người chăn nuôi đang gặp vấn đề sinh sản của lợn nái như lợn nái chậm động dục, động dục nhưng phối giống không đạt, hoặc phối đạt nhưng đẻ ít con… Hiện tượng này thường gặp đối với những người nuôi lợn rừng của Việt Nam hoặc lợn nái lai giữa lợn rừng Việt Nam với lợn địa phương miền núi. Thông thường, trong tự nhiên lợn rừng thường động dục từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau. Mỗi lần động dục chỉ đẻ 5 - 6 con, Chính hiện tượng này đã làm cho nhiều người không thể phát triển chăn nuôi lợn rừng của Việt Nam được.
Trên thực tế, lợn rừng nhập từ Thái Lan ít gặp những trở ngại về sinh sản hơn so với lợn rừng Việt Nam. Có nhiều thông tin cho rằng, lợn rừng Thái Lan đã được cải tiến nhiều về khả năng sinh sản. Nhưng sản phẩm thịt của lợn rừng Thái Lan ở một góc độ nào đó vẫn chưa thực sự hấp dẫn người tiêu dùng như lợn rừng Việt Nam. Xuất phát từ vấn đề đó, em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được việc sử dụng kích dục tố để nâng cao sức sản xuất của lợn nái rừng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn rừng, tạo tiền đề phát triển chăn nuôi lợn rừng cho người dân khu vực miền núi.
- Rèn luyện được tay nghề sau khi đã học xong lý thuyết.3 Ý nghĩa của đề tài n Ý nghĩa khoa học: Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng kích dục tố trong việc kích thích động dục, tăng số trứng rụng, tăng tỷ lệ thụ thai và số con đẻ/lứa đối với lợn nái rừng. Ý nghĩa thực tiễn: Việc ứng dụng kích dục tố đối với lợn nái rừng góp phần giải quyết được khó khăn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản của những người chăn nuôi lợn rừng Việt Nam, đẩy mạnh hiệu quả chăn nuôi, tạo ra một hướng đi mới cho đồng bào khu vực miền núi phía Bắc. n PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Tổng quan về lợn rừng Loài lợn Rừng có tên khoa học là Sus scrofa (Common Wild Pig), tên địa phương là lợn lòi hay lợn kun bíu. Lợn Rừng có 21 phụ loài sống trên phạm vi rất rộng gồm nhiều khu vực của Châu Âu, Bắc Á và nhiều vùng của Bắc Phi.
Nó chính là tổ tiên của các giống lợn ngày nay. Trên thế giới nhiều nước đã thuần hóa con lợn Rừng để đưa vào hệ thống chăn nuôi những con vật đặc sản của họ và với công nghệ cao. Ngay cả hai nước cạnh chúng ta là Trung Quốc và Thái Lan cũng đã phát triển chăn nuôi lợn rừng từ 12 – 18 năm nay, họ có những tài liệu chuẩn về quy trình chăn nuôi lợn rừng. Vì vậy để phát triển chăn nuôi lợn Rừng ở nưới ta thì cần học hỏi kinh nghiệm từ hai nước này rất nhiều.
Theo nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu Quốc tế phát triển Nông nghiệp (Pháp) thì lợn rừng có tới 36 giống phân bố ở hầu khắp các lục địa trên thế giới. Phân bố chủ yếu ở các vùng Bắc Phi; Châu Âu, phía nam nước Nga, Trung Quốc, vùng Trung Đông… và các đảo đảo nam Thái Bình Dương. Đây là loài động vật hoang rã thị thơm ngon và nhiều chất dinh dưỡng, nhu cầu của người dân đối với thịt lợn rừng ngày càng tăng. Tuy nhiên có một điều thực tế là: - Số lượng lợn Rừng ngoài tự nhiên có hạn - Không được săn bắt Vậy để đáp ứng nhu cầu của người dân về thịt lợn thơm ngon, từ những năm 1990 các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu để biến lợn Rừng hoang dã thành đối tượng có thể nuôi thương phẩm được.
Các nội dung nghiên cứu tập trung chủ yếu ở một số vấn đề sau. n - Nghiên cứu thuần hóa lợn Rừng - Nghiên cứu nhân giống lợn rừng thuần - Nghiên cứu lai, nhằm lai giữa lợn đực rừng với lợn cái bản địa của địa phương để ttaoj ra con lai gần giống lợn rừng - Nghiên cứu nuôi thương phẩm lợn rừng và lợn lai Hiện nay vấn đề nuôi lợn rừng, lợn lai đã được phát triển rất mạnh, mang lại giá trị kinh tế rất cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, New Zealand. Đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á nước Thái Lan đã tập t giống lợn rừng nghiên cứu phát triển từ những năm 2000, họ đã thuần hóa, nhân giống tạo ra giống lợn rừng Thái Lan rất phát triển, họ đã suất khẩu lợn rừng sang quốc gia khác trong đó có Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lợn rừng của Thái Lan. Cùng với nghề lợn rừng phát triển trên thế giới đặc biệt là quốc gia Thái Lan Đông Nam Á, thì tại Việt Nam mới đầu tư nghiên cứu, phát triển để tạo ra nghành chăn nuôi có hiệu quả tại Việt Nam.
Để phát triển nghề nuôi lợn rừng ở Việt Nam được sự hỗ chợ của chính phủ Việt Nam, Viện Chăn nuôi cùng các nhà khoa học ngoài Viện có lĩnh vực chuyên môn Động vật rừng đã tập trung nghiên cứu về lợn rừng và nghiên cứu thành công. - Thuần hóa lợn rừng Việt Nam - Lai lợn rừng Thái Lan với lợn rừng Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã xây dựng được nhiều quy trình kỹ thuật về thuần hóa, nhân giống và nuôi thương phẩm lợn rừng, lợn lai. Trên cả nước hiện nay đã có trên 50 trang trại chăn nuôi lợn rừng với quy mô lớn chưa kể các hộ gia đình chăn nuôi số lượng ít. Hiện nay có rất nhiều công ty đang kinh doanh con giống và tiêu thụ thịt lợn rừng là: Công ty TNHH Khánh Giang (ở Bình Phước); Công ty Hương Tràm (ở quận Phú Thuận – Tp.HCM; Công ty ANFA (ở quận 10 – Tp.
Giữa năm 2006, Công ty ANFA đã có hơn 400 đơn đặt hàng mua giống lợn rừng từ các tỉnh n miền nam. Hiện nay nghề nuôi lợn rừng đã phát triển khắp các tỉnh thành trên cả nước. Hiện nay, ở Việt Nam có hai dòng lợn rừng nuôi chính là rừng Thái lan và rừng Việt Nam. Loại lợn rừng Thái Lan có thân ngắn, béo má phệ, chân xoạc, lông ngắn, ít bờm, nhiều con chân trắng.
Loại lợn rừng Việt Nam: người thon, mình dài, chân cao, mình lép, má gọn, có lông bờm dài, móng chụm và đen. Khi mới sinh lợn rừng Việt Nam có sọc dưa vàng đậm nét hơn lợn rừng Thái Lan. Theo Tăng Xuân Lưu – 2009: tính cho tới tháng 8/2009 tổng đàn lợn rừng nái sinh sản cả nước ước tính khoảng 1600 con, tổng đàn lợn rừng có nguồn gốc từ Thái Lan là 4200 con. Lợn rừng chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía nam khoảng 65% gồm các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Tp.
Hồ Chí Minh. Trang trại của công ty Khánh Gia được coi là lớn nhất phía nam với 200 con lợn rừng nái. Ngoài ra còn còn các trang trại khác nữa: trang trại ở Long An có 60 nái, trang trại ở Vũng Tàu có 80 nái, trang trại ở Tây Nguyên 35 nái, trang trại ở Nha Trang có 30 nái… Ngoài ra các trang trại ở các tỉnh khác cũng phát triển rải rác với 5 – 15 nái được bắt nguồn từ trang trại của Viện Chăn nuôi từ năm 2008 tới nay.2 Đặc điểm sinh sinh lý sinh dục của lợn nái * Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài. - Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp.
Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 - 7g. ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [7]. Buồng trứng thực hiện hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormone sinh dục cái). n - Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo.
Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời. Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh. Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi. - Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung.
Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m. Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều. Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm và có đường kính ngoài 2 - 3cm. Tử cung có nhiều chức năng.
Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [7]. - Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm. Đây là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ. - Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình.
* Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục. Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng. Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc. Tuy nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kì động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường.