Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới Vai trò của cây dược liệu Thuốc phòng và chữa bệnh thường được sản xuất từ hai nguồn dược liệu và hóa dược. Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho thấy có khoảng 20.000 loài thảo dược trên toàn cầu, không chỉ tồn tại ở các nước Đông Nam Á mà còn được tiêu thụ rộng rãi ở các nước phương Tây. Đáng chú ý là, trong các nước có nền công nghiệp phát triển, đã có 1/4 số thuốc được sử dụng trong đơn thuốc có thành phần hoạt chất từ thảo dược.
Chỉ riêng tại Mỹ vào năm 1980, giá trị của các loại thuốc này đã lên đến 8 tỷ USD. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thuốc từ thảo dược tự nhiên (không qua quá trình tách hóa chất) ngày càng gia tăng trên toàn cầu. Thị trường Châu Âu đã đạt mức giá trị lên đến 2,3 tỷ USD và riêng Cộng hòa Liên bang Đức đã đạt mức giá trị lên đến 1,7 tỷ USD. Nhiều loại thuốc đông y của Trung Quốc cũng đã được tiếp thị mạnh mẽ trong các nước Châu Âu.
Gần đây, cũng đã có một số sản phẩm dược liệu đông y xuất khẩu được tin tưởng trên thị trường quốc tế. Dược liệu là nguồn cung cấp nguyên liệu cho việc tổng hợp thuốc trong công nghiệp dược phẩm. Chỉ riêng để sản xuất thuốc steroid, hàng năm cần sử dụng khoảng 100 tấn cây mài chứa Diosgenin trên toàn thế giới. Nhiều hoạt chất quan trọng như quinine, morphin, ajmalin, vincaluecoblastin, emetin và strychnine đều phải được chiết xuất từ dược liệu vì chưa có con đường tổng hợp hiệu quả.
Dược liệu cũng làm mở rộng không gian cho sự phát triển của ngành công nghiệp hóa dược. Về mặt kinh tế, Việt Nam xếp cây thuốc vào loại cây công nghiệp cao cấp cần được phát triển như các loại cây công nghiệp khác. Đối với Việt Nam, dược liệu có vị trí quan trọng. Quốc gia này nằm trong khu vực địa 4 lý nhiệt đới và chịu ảnh hưởng của gió mùa.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25 °C và độ ẩm khá cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây cối. Diện tích rừng chiếm khoảng 2/3 diện tích đất. Hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, toàn quốc có khoảng 20.000 loài, trong số đó có hơn 1000 loài cây thuốc. Nước ta cũng có một số khu vực có độ cao trên 1.000 m như SaPa, Đà Lạt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu một số cây như artichaut và dương địa hoàng.Ngoài ra, Việt Nam cũng có hơn 3.200 km bờ biển từ Bắc vào Nam, mang lại nguồn hải sản quý hiếm để sử dụng làm nguyên liệu chế thuốc.
Nếu chúng ta biết cách khai thác và trồng cây một cách hợp lý, sẽ đóng góp rất nhiều cho ngành dược nước ta. Dân tộc Việt Nam, cũng như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản và một số nước Đông Nam Á khác, có truyền thống chữa bệnh theo phong cách y học cổ truyền từ lâu đời, đòi hỏi việc cung cấp một lượng lớn dược liệu. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhập khẩu số lượng thuốc bắc từ Trung Quốc khá lớn. Tuy nhiên, nếu có kế hoạch đẩy mạnh việc trồng trọt và du nhập các cây thuốc của Trung Quốc vào Việt Nam, sẽ giảm được sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.
Sự cần thiết phát triển dược liệu Để tiếp tục truyền thống y dược cổ truyền, duy trì và phát triển nền y dược này, chúng ta cần đảm bảo nguồn dược liệu với chất lượng và đa dạng phong phú. Việt Nam là một trong những quốc gia có lịch sử y dược cổ truyền lâu đời. Nền y dược này mang lại tiềm năng và vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, để duy trì bảo tồn và phát triển, không chỉ cần có các bác sĩ giỏi mà còn cần có nguồn dược liệu đủ chất lượng và đa dạng.
Hiện nay, không chỉ tại Việt Nam mà tại toàn thế giới, xu hướng"trở về thiên nhiên"đã khiến việc sử dụng thuốc từ nguồn dược liệu của nhân dân ngày càng gia tăng do ít gây hại và phù hợp với quy luật sinh lý của cơ thể. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% số người trên thế giới hiện 5 nay vẫn sử dụng thuốc từ nguồn tự nhiên để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Trong Tuyên ngôn Alma Ata năm 1978 và"Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền"năm 1991, WHO luôn khuyến nghị việc sử dụng thuốc cổ truyền trong việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá tính an toàn và hiệu quả, và đảm bảo nguồn cung cấp các loại thuốc này. Dược liệu nói chung và cây thuốc nói riêng có giá trị kinh tế cao hơn so với việc trồng cây lương thực hay cây thực phẩm.
Trong những thập kỷ qua, hàng chục ngàn tấn dược liệu đã được khai thác từ thiên nhiên và trồng trọt hàng năm, mang lại lợi ích kinh tế to lớn. Việc phát triển cây thuốc có thể giúp các vùng nông thôn và miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Dược liệu tồn tại song song với hệ sinh thái rừng, nông nghiệp và vùng quê. Nó có mối liên hệ mật thiết giữa sự đa dạng sinh học của cây thuốc và đa dạng văn hóa, y học cổ truyền, kết nối với kiến thức y dược của 54 dân tộc, là bản sắc văn hóa của người Việt Nam.
Trong tình hình hiện nay, chúng ta nhận thấy tỷ lệ nhập khẩu dược liệu ngày càng tăng, đặc biệt là qua các kênh tiểu ngạch. Điều này gây khó khăn trong quản lý chất lượng dược liệu và ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và uy tín của y dược cổ truyền Việt Nam. Để chủ động trong lĩnh vực phát triển y dược cổ truyền và đảm bảo y dược cổ truyền giữ được thế mạnh của y học Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì chúng ta phải chủ động được nguồn dược liệu. Hơn bao giờ hết, lúc này phát triển dược liệu nên được coi là an ninh quốc gia.
Phát triển nuôi trồng dược liệu còn là giải pháp quan trọng hạn chế tối đa việc khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ động, thực vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng. Nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc trên thế giới Loài người từ khi ra đời đã biết dựa vào rừng để sống. Không chỉ lấy ra từ rừng lương thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con người còn biết 6 lấy cây rừng làm rau ăn, nước uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Từ những kinh nghiệm dân gian qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng người trên khắp thế giới đã phát triển những phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa.
Việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trưng riêng. Chữa bệnh bằng cây thuốc đã có từ lâu đời như chính loài người. Mối liên hệ giữa con người và việc tìm kiếm các loại thuốc trong tự nhiên đã có từ xa xưa, trong đó có rất nhiều bằng chứng từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu viết, di tích được bảo tồn, và thậm chí cả các loại thuốc thực vật gốc.
Nhận thức về việc sử dụng cây thuốc là kết quả của nhiều năm đấu tranh chống lại bệnh tật, nhờ đó con người đã học cách theo đuổi các loại thuốc trong vỏ cây, hạt, quả và các bộ phận khác của cây. Khoa học đương đại đã thừa nhận hành động tích cực của họ, và nó đã đưa vào liệu pháp dược hiện đại một loạt các loại thuốc có nguồn gốc thực vật, được các nền văn minh cổ đại biết đến và sử dụng trong suốt nhiều thiên niên kỷ. Từ xa xưa, để tìm kiếm cứu cánh cho căn bệnh của mình, con người đã tìm đến các loại thuốc trong tự nhiên. Sự khởi đầu của việc sử dụng cây thuốc là theo bản năng, như trường hợp của động vật.
được sử dụng như một phương pháp chữa bệnh, mọi thứ đều dựa trên kinh nghiệm. Đã kịp thời khám phá ra nguyên nhân của việc sử dụng các cây thuốc đặc trị một số bệnh; do đó, việc sử dụng cây thuốc dần dần từ bỏ khuôn khổ kinh nghiệm và trở nên dựa trên các dữ kiện giải thích. Cho đến khi ngành hóa thạch ra đời vào thế kỷ 16, thực vật đã là nguồn điều trị và dự phòng. Tuy nhiên, việc giảm hiệu quả của các loại ma túy tổng hợp và chống chỉ định ngày càng tăng của việc sử dụng chúng khiến việc sử dụng các loại thuốc tự nhiên trở lại tại chỗ.
7 Bằng chứng bằng văn bản lâu đời nhất về việc sử dụng cây thuốc để điều chế thuốc đã được tìm thấy trên một phiến đất sét của người Sumer ở Nagpur, khoảng 5000 năm tuổi. Nó bao gồm 12 công thức pha chế thuốc đề cập đến hơn 250 loại thực vật khác nhau, một số trong số đó là alkaloid như cây thuốc phiện, cây lá móng và cây mandrake (Kelly K, 2009). Cuốn sách về rễ và cỏ của Trung Quốc “Pen T'Sao” do Hoàng đế Thần Nùng viết vào khoảng 2500 năm trước Công nguyên, điều trị 365 loại thuốc (các bộ phận khô của cây thuốc), nhiều loại được sử dụng cho đến ngày nay như: Rhei rhisoma, Theae folium, Podophyllum, cây khổ sâm vàng, nhân sâm, cỏ dại jimson, vỏ quế và ma hoàng (Bottcher H, 1965). Các sách thánh kinh Veda của Ấn Độ đề cập đến việc điều trị bằng thực vật, có rất nhiều ở đất nước đó.
Nhiều loại cây gia vị được sử dụng thậm chí ngày nay có nguồn gốc từ Ấn Độ: nhục đậu khấu, tiêu, đinh hương, v. Ebers Papyrus, được viết vào khoảng năm 1550 trước Công nguyên, đại diện cho một bộ sưu tập gồm 800 đơn đề cập đến 700 loài thực vật và các loại thuốc được sử dụng để trị liệu như lựu, cây thầu dầu, lô hội, senna, tỏi, hành, sung, liễu, rau mùi, cây bách xù, thông thường. Theo dữ liệu từ Kinh thánh và cuốn sách Talmud của người Do Thái, trong các nghi lễ khác nhau đi kèm với việc điều trị, các loại cây có mùi thơm đã được sử dụng như myrtle và nhang (Dimitrova Z, 1999).