Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀ ỨNG DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về kế toán quản trị 1. Khái niệm kế toán quản trị Kế toán quản trị đã hình thành, phát triển với một quá trình khá lâu dài trên thế giới và trong mỗi thời kỳ, kế toán quản trị được tiếp cận, định nghĩa theo những góc nhìn, trọng tâm khác nhau. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế công bố trong tài liệu tổng kết các khái niệm kế toán quản trị trên thế giới năm 1998, “Kế toán quản trị được xem như là một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lường, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá, kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.” - IFAC (1998), Management Accounting Concepts.
Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ.Horngren, Alnoor Bhimani, Srikant M.Datar, George Foster (2002), Management and cost Accounting, second edition, Frentice Hall. Theo nhóm tác giả Charles T.Horngren, Alnoor Bhimani, Srikant M.Datar, George Foster, “Kế toán quản trị là ứng dụng nguyên tắc kế toán, nguyên tắc quản trị tài chính để tạo lập, bảo vệ, gìn giữ và gia tăng giá trị cho tổ chức.” - Charles LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Horngren, Alnoor Bhimani, Srikant M.Datar, George Foster (2002), Management and cost Accounting, second edition, Frentice Hall Europe. Theo nhóm tác giả Jan R.Bettner, “Kế toán quản trị là trình bày, giải thích những thông tin kế toán với định hướng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thông tin của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.Bettner (2005), Finacial & Managerial Accounting the basic for business decisions, Mc.Graw-Hill Companies. Theo Kim Langfield-Smith, Helen Thorne, and Ronald Hilton “Kế toán quản trị là quy trình và kỹ thuật tập trung vào việc sử dụng có kết quả, hiệu quả nguồn lực kinh tế của tổ chức để hỗ trợ cho nhà quản trị trong công việc thúc đẩy tạo nên giá trị cho khách hàng và cho cổ đông.” - Kim Langfield-Smith, Helen Thorne, and Ronald Hilton (2012), Management Accounting – Information for creating and managing value, the McGraw-Hill Companies, Theo Luật Kế toán Việt Nam, “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” - Luật Kế toán Việt Nam năm 2003 Tóm lại, kế toán quản trị được định nghĩa theo những quan điểm, góc tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, kế toán quản trị về cơ bản gắn liền với : - Quy trình kỹ thuật, nguyên tắc chuyên môn của kế toán quản trị; - Nội dung, phạm vi, trọng tâm của thông tin kế toán quản trị; - Đối tượng sử dụng thông tin của kế toán quản trị; - Mục đích, ý nghĩa của kế toán quản trị.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chức năng kế toán quản trị Chức năng lập kế hoạch: Một tổ chức cần phải lập kế hoạch cho các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Kế hoạch dài hạn thông thường đòi hỏi những vấn đề quyết định có tính chiến lược liên quan đến những mục tiêu lâu dài. Mục đích dài hạn của một tổ chức thường là tối đa lợi nhuận, tối đa giá trị của cổ đông, giảm thiểu chi phí, tối đa doanh thu, tăng thị phần sản phẩm.
Kế toán quản trị giúp việc lập kế hoạch bằng cách cung cấp các thông tin dự báo về giá, về chi phí vốn, giá thành sản xuất, ngân sách hoạt động hàng năm. Đối với chức năng điều hành: Để điều hành doanh nghiệp, nhà quản trị cần có những thông tin về quá trình, kết quả, hiệu quả hoạt động diễn ra. Kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin về quá trình, kết quả, hiệu quả hoạt động bằng các chỉ tiêu tiền tệ và phi tiền tệ liên quan đến hoạt động trên các báo cáo nhanh, báo cáo nội bộ. Ví dụ, số liệu về doanh thu và thị phần các mặt hàng trên thị trường, số liệu về lao động và năng suất lao động,.
Chức năng kiểm soát : Một trong những vấn đề quan trọng của quản lý là kiểm soát, kế toán quản trị sẽ cung cấp những báo cáo so sánh giữa quá trình, kết quả, hiệu quả hoạt động thực tế với chiến lược, kế hoạch, dự toán hay mục tiêu và chỉ ra những sai lệch cùng với những nhân tố, những tác động đến tình hình diễn ra từ đó giúp nhà quản trị kiểm soát một các hữu hiệu mục tiêu để điều chỉnh kịp thời những sai lệch, không hiệu quả hoạt động cũng như quyền hạn, trách nhiệm từng con người, bộ phận trong doanh nghiệp. Ví dụ, với sự so sánh thực tế với dự toán chi phí, kế toán quản trị giúp nhà quản trị kiểm soát chi phí phát sinh,. Chức năng ra quyết định: Một trong những vấn đề nữa rất quan trọng của quản trị là ra quyết định. Việc ra quyết định có thể diễn ra ngay trong kế hoạch, tổ chức thực hiện hay kiểm soát.
Kế toán quản trị sẽ là một công cụ hữu ích trong việc cung cấp thông tin để nhà quản trị xem xét, so sánh, lựa chọn một quyết định. Ví dụ, kế toán quản trị sẽ cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanh ngắn hạn hay dài hạn, quyết định về giá bán,. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Các chức năng của kế toán quản trị luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và rất khó đưa ra một ranh giới, phạm vi chính xác của từng chức năng. Sự phân chia các chức năng kế toán quản trị chỉ mang tính chất tương đối, dựa vào trọng tâm của từng chức năng trong liên kết, định hướng thiết lập thông tin cung cấp cho các mục tiêu quản trị doanh nghiệp của những nhà quản trị.
Chức năng kế toán quản trị và mối quan hệ của chức năng kế toán quản trị với chức năng quản trị được thể hiện qua sơ đồ sau : Nhà quản trị Kế toán quản trị Thông tin Ra quyết định chứng minh quyết định Thông tin Hoạch định dự toán Thông tin Tổ chức thực kết quả Thông tin Kiểm tra, đánh giá biến động và nguyên nhân Sơ đồ 1.1: Các chức năng kế toán quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm kế toán quản trị và sự khác biệt với đặc điểm kế toán tài chính Kế toán quản trị có những đặc điểm chung của kế toán, tạo nên sự khác biệt giữa kế toán quản trị với các chuyên ngành kinh tế khác, như cùng sử dụng thông tin đầu vào từ hệ thống thông tin ban đầu trên chứng từ kế toán; gắn liền với những quan hệ kinh tế, tài chính, trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; tuân thủ những quy chuẩn trong phản ảnh và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đặc điểm chung, kế toán quản trị có những đặc điểm riêng hình thành thích hợp cho việc cung cấp thông tin quản trị cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp như : - Thông tin thể hiện các vấn đề kinh tế, tài chính quá khứ, hiện tại, tương lai nhưng thường hướng đến tương lai; được đo lường bằng bất kỳ đơn vị nào và thông tin phải linh hoạt, kịp thời, phù hợp theo yêu cầu quản trị; - Báo cáo thể hiện thông tin kinh tế, tài chính theo quy chuẩn nội bộ, không nhất thiết phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực, quy định của chính sách kế toán chung; - Quy trình xử lý thông tin linh hoạt theo đặc điểm kỹ thuật – kinh tế - quản lý riêng của từng hoạt động, từng doanh nghiệp; - Đề cao tính trách nhiệm, hệ thống trách nhiệm trong tổ chức, quản trị nội bộ doanh nghiệp. Những đặc điểm trên kế toán quản trị giúp phân biệt và kết nối với những đặc điểm của kế toán tài chính tạo nên sự hoàn thiện của hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp.
Và chính những đặc điểm và sự kết nối đó là những vấn đề cơ sở luận cần phải đảm bảo, tuân thủ và khai thác khi ứng dụng kế toán quản trị vào doanh nghiệp. Cụ thể những đặc điểm khác biệt giữa kế toán quản trị với kế toán tài tạo nên sự hoàn thiện của hệ thống thông tin kế toán để đảm bảo thông tin cho những đối tượng sử dụng khác nhau được thể hiện qua bảng so sánh sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Bảng 1 – Sự khác biệt giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính KẾ TOÁN QUẢN TRỊ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH Đối tượng sử dụng Chủ yếu các nhà quản trị bên Chủ yếu những đối tượng thông tin trong doanh nghiệp bên ngoài doanh nghiệp Hướng về tương lai Phản ánh quá khứ Đặc điểm thông tin Linh hoạt, kịp thời, phù hợp, Đảm bảo những nguyên tắc dễ hiểu cho nhu cầu thông tin kế toán chung trong công của nhà quản trị trong nội bộ bố thông tin cho các đối doanh nghiệp. tượng sử dụng bên ngoài Đo lường linh hoạt bằng Đo lường chủ yếu bằng tiêu những tiêu chuẩn định tính, chuẩn định lượng qua thước định lượng đo tiền tệ Yêu cầu thông tin Hữu ích cho quản trị Đáp ứng thẩm định Phạm vi thông tin Từng bộ phận, đơn vị và cả Toàn doanh nghiệp, xem cung cấp toàn doanh nghiệp doanh nghiệp là một đơn vị thống nhất của thông tin Các loại báo cáo Báo cáo theo yêu cầu và mục Báo cáo tài chính do Nhà đích sử dụng của nhà quản trị nước qui định Kỳ lập báo cáo Thường xuyên Định kỳ Quan hệ với các Quan hệ nhiều Quan hệ ít ngành khoa học khác Tính bắt buộc Không có tính bắt buộc Có tính bắt buộc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Giống nhau Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng nghiên cứu quá trình, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu và cùng thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị ở những góc độ khác nhau.