Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG VỀ ERP 1.1 CÔNG NGHỆ MỚI 1.1 Sự đổi mới Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và quá trình toàn cầu hóa, sự đổi mới và ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở thành một yêu cầu tất yếu. Một mặt, nó đặt ra yêu cầu đối với mỗi doanh nghiệp, mặt khác giúp các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với công nghệ tiên tiến và phương thức kinh doanh mới của thế giới.2 Tư duy công nghệ mới Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật và yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia, các doanh nghiệp muốn đảm bảo quá trình cạnh tranh của mình đều phải có định hướng và những hoạt động xúc tiến nhất định nhằm ứng dụng công nghệ mới vào quá trình sản xuất kinh doanh. Cộng nghệ mới đối với doanh nghiệp là những sản phẩm công nghệ lần đầu tiên được áp dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Công nghệ mới có thể là một sản phẩm công nghệ tổng hợp từ nhiều công nghệ khác để có thể có được sản phẩm công nghệ hoàn hảo.
Để hội nhập được với công nghệ mới, doanh nghiệp cần có sự chuyển biến về chất của tư duy công nghiệp mà trọng điểm là tư duy công nghệ mới. Bằng tư duy công nghệ mới và sự phối hợp liên ngành, con người sẽ đổi mới, xúc tiến các phương pháp giải quyết những vấn đề kỹ thuật tổng hợp nhằm đưa ra các sản phẩm tiên tiến phục vụ nền công nghiệp hiện đại.2 HỆ THỐNG THÔNG TIN và ERP 1.1 Hệ thống thông tin (HTTT) 1.1 Định nghĩa Theo Trương Văn Tú và Nguyễn Thị Song Minh (2000): “HTTT là một tập hợp con người, các thiết bị phần cứng, phần mềm, dữ liệu. Thực hiện hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin trong một tập các ràng buộc gọi là môi trường.” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phân loại hệ thống thông tin 1. Theo cấp quản lý - Hệ thống thông tin xử lý giao dịch (TPS- Transaction Processing System) - Hệ thống thông tin quản lý (MIS- Management Information System) - Hệ thống trợ giúp ra quyết định (DSS- Decision Support System) - Hệ thống chuyên gia (ES- Expert System) - Hệ thống thông tin tăng cường khả năng cạnh tranh (ISCA- Information System for Competitive Advantage) 2.
Theo chức năng nghiệp vụ - HTTT Tài chính - Kế toán - HTTT Nguồn nhân lực - HTTT tiếp thị & bán hàng - HTTT Sản xuất - HTTT Kho hàng - HTTT Cung ứng .1 Khái niệm ERP Theo Travis Anderegg (2000): “ERP là chữ viết tắt của Enterprise Resource Planning là một giải pháp thương mại toàn diện. Thực hiện qui trình tích hợp và đồng bộ các nghiệp vụ của một công ty. Nó bao gồm: hệ thống ERP và các qui trình nghiệp vụ bên trong và xung quanh mỗi phân hệ. Hệ thống ERP và qui trình nghiệp vụ phải được kết hợp để trở thành giải pháp ERP.
Yếu tố tích hợp trong hệ thống ERP gắn kết toàn bộ hệ thống tạo thành giải pháp ERP hoàn chỉnh. Hệ thống ERP bao gồm các phân hệ phần mềm như: quản lý tài chính – kế toán, quản lý nhân sự - tiền lương, quản lý sản xuất, quản lý hậu cần, quản lý dịch vụ, quản lý dự án, dự đoán và lập kế hoạch. Hoạt động nghiệp vụ bên trong mỗi phân hệ bao gồm việc quản lý, ra quyết định, huấn luyện, tài liệu, giao tiếp, quản lý con người…” TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Quá trình hình thành của ERP ERP là chữ viết tắt của từ Enterpise Resource Planning. Hệ thống ERP thật sự là một hệ thống mang tính cách mạng cao.
Những người tiên phong trong lĩnh vực này đã đặt tên cho hệ thống ERP hiện đại ngày nay bằng cách ghép các chữ cái đầu tiên lại với nhau.Vài từ viết tắt đã gây ra lộn xộn trong thời gian qua như MRP, MRPII, ERP và gần đây là ERM. Bốn từ viết tắt được dùng liên quan đến hệ thống ERP bao gồm: MRP: Material Requirements Planning - Hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu. MRPII: Manufacturing Resource Planning - Hoạch định nguồn lực sản xuất. ERP: Enterpise Resource Planning - Hoạch định nguồn lực doanh nghiệp.
ERM: Enterpise Resource Management - Quản trị nguồn lực doanh nghiệp. Hình 1-1 Miêu tả sự tiến hoá của hệ thống ERP hiện đại ngày nay "Nguồn: Travis Anderegg (2000)” [14] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Vào thập niên 1950 bắt đầu xuất hiện khái niệm tập trung vào chức năng cơ bản của quá trình quản lí sản xuất bao gồm: - Số lượng đặt hàng kinh tế (EOQ) - Lượng tồn kho an toàn (Safety Srock) - Danh sách nguyên liệu (Bill of Materials-BOMP) - Quản lý lệnh sản xuất (Work Orders) Vào giữa thập niên 1960, các chức năng trên đã cấu thành hệ thống MRP. Dựa trên sự tích hợp các chức năng cơ bản của quá trình quản lý sản xuất. Vào những năm 1975, hệ MRP đã được định nghĩa và hiểu biết một cách đầy đủ và chính xác hơn.
Cũng kể từ đó bắt đầu hình thành hệ thống MRPII. Sự lẫn lộn giữa MRPII và MRP đã bắt đầu ngay sau khi giới thiệu MRPII. Việc dễ nhầm lẫn bắt đầu trong đào tạo và định nghĩa chung chung về MRP và MRPII. Khi những chuyên gia tư vấn các nhà hoạch định sử dụng thuật ngữ MRP thì họ cảm thấy không rõ ràng khi thảo luận về MRP hay MRPII.
Tổ chức APICS, là một công ty có rất nhiều kinh nghiệm về hệ thống MRP, đã định nghĩa MRP trong cuốn từ điển biên soạn lần thứ 9 của APICS như sau: ”MRP là một công nghệ sử dụng dữ liệu về BOM, thông tin kho và lịch sản xuất để tính toán ra nhu cầu nguyên vật liệu. MRP đưa ra yêu cầu huỷ bỏ những đơn đặt hàng không cần thiết. MRP đưa ra các đề xuất tối ưu hoá việc mua hàng bằng cách tính toán lại thời điểm có thể nhận lại nguyên vật liệu (từ nhà cung cấp) và thời điểm thực sự cần số hàng đó cho sản xuất. MRP dựa trên số lượng hàng cần sản xuất trong một giai đoạn và: Thứ nhất xác định số lượng và tất cả các nguyên vật liệu thành phần để sản xuất một loại hàng đó.
Thứ hai là xác định các yếu tố về thời gian. Thời điểm cần các nguyên vật liệu và các thành phần trong các công đoạn của quá trình sản xuất. MRP dựa trên cấu trúc BOM, xem xét số lượng nguyên liệu tồn kho (thực tế, số lượng đang trên đường về) và xác định số lượng thật sự cần mua thêm trong thời TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 gian giao hàng (mà nhà cung cấp hứa hẹn) nhằm đáp ứng một cách tối ưu cho sản xuất. Còn MRPII được định nghĩa là: ”Một phương pháp hoạch định hiệu quả các nguồn tài nguyên của doanh nghiệp”.
Nó nhắm đến việc hoạch định cho từng đơn vị bộ phận, hoạch định tài chính và có khả năng dự trù cho các tình huống xẩy ra trong quá trình sản xuất. Nó được hình thành từ nhiều chức năng riêng biệt liên kết lại với nhau: - Hoach định kinh doanh - Hoạch định bán hàng và dao dịch - Hoạch định sản xuất - Hoạch định yêu cầu nguyên vật liệu Đầu ra của hệ thống được tích hợp với những báo cáo tài chính như là: - Kế hoạch kinh doanh. - Chi phí vận chuyển. - Giá trị tồn kho.
MRPII là kết quả trực tiếp và mở rộng từ các vòng lặp MRP” Định nghĩa về MRP và MRPII như trên đã được những giới nghiên cứu, các chuyên gia tư vấn, những người triển khai đón nhận nồng nhiệt. Thiếu kiến thức là nguyên nhân chính cho sự nhầm lẫn giữa MRP và MRPII. Đến những năm 1990, điều gì đã làm xuất hiện khái niệm ERP? Đó chính là công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin đã góp phần xây dựng khái niệm ERP dựa trên hệ thống MRPII.
Ban đầu có vài định nghĩa hệ thống ERP như sau: ”ERP là một hệ thống thông tin hướng hệ thống kế toán sử dụng kĩ thuật mới như sử dụng giao diện người dùng, cơ sở dữ liệu quan hệ, ngôn ngữ máy tính thế hệ 4, phần mềm hỗ trợ máy tính, kiến trúc client/server” "Nguồn: Travis Anderegg (2000)” [14] Vài chuyên gia thấy rằng định nghĩa ERP trên có chút vấn đề nhỏ, MRPII hay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 ERP có hay không có bao gồm khả năng: ngôn ngữ thế hệ thứ 4 hoặc cơ sở dữ liệu quan hệ. Công nghệ thông tin quan trọng nhưng nó không nên dùng quá nhiều để định nghĩa hệ thống ERP. Một định nghĩa về ERP nên gồm những nghiệp vụ cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: kế toán, sản xuất, phân phối, giao dịch, bán hàng, vật tư, chất luợng… Hệ thống ERP được định nghĩa chính xác hơn như sau: ERP là chữ viết tắt của Enterprise Resource Planning. Đó là một hệ thống phần mềm giúp cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoạt động một cách hiệu quả và toàn diện.
Hệ thống ERP gồm những phân hệ: - Quản lý hoạt động tiếp thị và bán hàng - Thiết kế và phát triển sản phẩm - Quản lý vật tư và thành phẩm - Quản lý mua hàng - Quản lý phân phối sản ohẩm - Thiết kế và phát triển qui trình sản xuất - Quản lý sản xuất - Quản lý chất lượng - Quản lý nhân sự - Kế toán –tài chính - Hệ thống báo cáo Hệ thống ERP có thể coi là bước phát triển tiếp theo của hệ thống ERPII và một phần nền tảng của định nghĩa hệ thống ERM. Vậy ERM là gì? Khái niệm về ERM xuất hiện vào đầu những năm thập niên kỉ này (2000). Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về ERM nhưng đều có một điểm chung là: ERP là một phần của ERM. Vậy mối quan hệ giữa ERM và ERP có giống như mối quan hệ giữa ERP và MRPII không? Câu trả lời là không.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Có vài định nghĩa cho rằng ERM là một hệ thống phần mềm. ERM là viết tắt của cụm từ Enterprise Resource Management - tức Quản trị nguồn lực doanh nghiệp; cần nhấn mạnh từ khoá quan trọng trong đó là “Resource - Nguồn lực” và “Management - Quản trị”. Khái niệm “Management - Quản trị” không phải đơn thuần là phần mềm. Phần mềm chỉ là một công cụ hỗ trợ cho việc quản trị, chứ nó không thể thế chỗ cho quản trị được! ERM có thể được hiểu như một công cụ và kỹ thuật dùng để quản lý nguồn lực của doanh nghiệp.
ERP cũng chỉ là một trong nhiều nguồn lực mà thôi.2 Cấu trúc của ERM “Nguồn: Travis Anderegg (2000)” [14] Trong hình 1.