MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng của môi trường sống là địa bàn phân bố khu dân cư là chỗ đứng của các khu công nghiệp, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt đối với ngành Nông- Lâm nghiệp. Trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước, công tác quản lý Nhà nước về đất đai và công tác trắc địa đó được chính phủ hết sức quan tâm.
Từ năm 1945 đến nay, nhà nước đó ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật về lĩnh vực đất đai, luật đất đai 1993 được sửa đổi bổ sung năm 1998, 2004 và luật đất đai 2013 đều quy định công tác điều tra khảo sát, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ được đặt lên hàng đầu trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai. Để bảo vệ quỹ đất đai của địa phương cũng như để thực hiện tốt hơn cho công tác quản lý đất đai thì bản đồ địa chính là hết sức cần thiết. Bản đồ địa chính là một tài liệu quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, nó phản ánh các thông tin về đất đai làm cơ sở cho việc đăng ký thống kê và hoàn thiện hồ sơ địa chính, quy hoạch sử dụng đất, làm cơ sở cho việc giao đất thu hồi đất, ngoài ra bản đồ địa chính cũng là tài liệu cơ bản để xây dựng các loại bản đồ chuyên đề khác. Để phục vụ mục đích trên, được sự đồng ý của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, công ty cổ phần phát triển Bất Động Sản Sài Gòn đã tổ chức khảo sát, thu thập tài liệu lập thiết kế kỹ thuật - dự toán: Đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 tại phường Phú Diễn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà.
Với tính cấp thiết của việc phải xây dựng hệ thống bản đồ địa chính cho toàn khu vực phường Phú Diễn, với sự phân công, giúp đỡ của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, công ty cổ phần phát triển bất động sản Sài Gòn với sự hướng dẫn của cô giáo T.S Vũ Thị Thanh Thủy em tiến hành nghiên cứu đề tài: h 2 “Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử thành lập bản đồ địa chính, tờ số 06 tỷ lê 1:500 tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nôi ” 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Ứng dụng công nghệ tin học và máy toàn đạc điện tử vào thành lập lưới khống chế đo vẽ cho phường Phú Diễn. - Đo vẽ chi tiết và biên tập tờ bản đồ địa chính số 6 tỉ lệ 1:500 tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. - Nghiên cứu khả năng ứng dụng của công nghệ tin học bao gồm hệ thống phần mềm Trắc địa, máy Toàn đạc điện tử trong công tác thành lập bản đồ địa chính và quản lý cơ sở dữ liệu tài nguyên đất phường Phú Diễn.
- Thuận lợi, khó khăn, đề xuất giải pháp. Ý nghĩa của đề tài 3. Trong học tập và nghiên cứu - Xây dựng lưới khống chế đo vẽ phục vụ việc thành lập bản đồ địa chính giúp quản lý Đất đai một cách có hiệu quả. - Bổ sung hoàn thiện kiến thức đã được học trong nhà trường cho bản thân đồng thời tiếp cận thấy được những thuận lợi và khó khăn về xây dựng cơ sở dữ liệu trên công nghệ GIS - Sử dụng thành thạo công nghệ GIS.
- Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. - Thu thập được những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố và hoàn thiện kiến thức đã học. Trong thực tiễn - Thực tập tốt nghiệp sẽ giúp cho sinh viên củng cố lại các kiến thức đã học tập trong nhà trường áp dụng vào thực tế công việc, phục vụ tốt cho quá trình công tác sau này, yêu cầu của ngành quản lý đất đai. h 3 - Ứng dụng máy toàn đạc điện tử trong công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được nhanh hơn đầy đủ hơn và chính xác hơn.
- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo có ý nghĩa, để các cấp có thẩm quyền tại địa phương phục vụ cho công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung tốt hơn trong những năm tiếp theo. - Phục vụ tốt cho việc đo vẽ chi tiết thành lập bản đồ địa chính theo công nghệ số, hiện đại hóa hệ thống hồ sơ địa chính theo quy định của Bộ TN&MT. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Bản đồ địa chính 2.
Khái niệm Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính, mang tính pháp lý cao phục vụ chặt chẽ quản lý đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên nghành thông thường ở chỗ bản đồ địa chính có tỷ lệ lớn và phạm vi rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc. Bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật nhưng thay đổi hợp pháp của pháp luật đất đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc cập nhật theo định kỳ. hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, người ta hướng tới việc xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng.
Vì vậy, bản đồ địa chính còn có tính chất của bản đồ địa chính cơ bản quốc gia. Bản đồ địa chính được dùng làm cơ sở để thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai như: - Thống kê đất đai. - Giao đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. - Đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở.
- Xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất. - Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm dân cư, qui hoạch giao thông, thuỷ lợi. - Lập hồ sơ thu hồi đất khi cần thiết. - Giải quyết tranh chấp đất đai.
Với điều kiện khoa học và công nghệ như hiện nay, bản đồ địa chính được thành lập ở hai dạng cơ bản là bản đồ giấy và bản đồ số địa chính. h 5 Bản đồ giấy địa chính là loại bản đồ truyền thống, các thông tin được thể hiện toàn bộ trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú. Bản đồ giấy cho ta thông tin rõ ràng, trực quan, dễ sử dụng. Bản đồ số địa chính có nội dung thông tin tương tự như bản đồ giấy, song các thông tin này được lưu trữ dưới dạng số trong máy tính, sử dụng một hệ thống ký hiệu đã số hoá.
Các thông tin không gian lưu trữ dưới dạng toạ độ, còn thông tin thuộc tính sẽ được mã hoá. Khi thành lập bản đồ địa chính cần phải quan tâm đầy đủ đến các yêu cầu cơ bản sau: - Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phù hợp với vùng đất và loại đất. Ngoài ra, bản đồ địa chính cần thể hiện đầy đủ và chính xác các yếu tố: Giao thông, thủy lợi, thông tin, địa vật đặc trưng.Ở những vùng có độ chênh cao cần thể hiện cả về mặt địa hình. - Các yếu tố pháp lý được điều tra, được thể hiện chính xác và chặt chẽ.
Bản đồ địa chính phải có hệ thống tọa độ thống nhất, có phép chiếu phù hợp để các yếu tố trên bản đồ biến dạng nhỏ nhất. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính Để đáp ứng yêu cầu về quản lý đất đai đặc biệt là khi sử dụng hệ thống thông tin đất đai, bản đồ địa chính trên toàn lãnh thổ phải là một hệ thống thống nhất về cả cơ sở toán học và độ chính xác. Muốn vậy phải xây dựng lưới toạ độ thống nhất và chọn một hệ quy chiếu tối ưu và hợp lý để thể hiện bản đồ. Hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia là cơ sở toán học mà mỗi quốc gia nhất thiết phải có để thể hiện thống nhất và chính xác các dữ liệu đo đạc bản đồ phục vụ quản lý biên giới quốc gia, quản lý nhà nước về địa giới hành chính lãnh thổ.
Trước đây bản đồ địa chính được thành lập trên mặt phẳng chiếu vuông góc Gauss-Kruger với múi chiếu 30, sử dụng Elipxôit Kraxovski (a = 6378245, b = 6356863, α = 1:298,3). Kinh tuyến gốc(00) được quy ước là kinh tuyến đi qua GRINUYT. Điểm gốc của hệ tọa độ mặt phẳng X = 0 km, Y = 500 km, kinh tuyến trung ương là 1050 đi qua Hà Nội. Kinh tuyến, vĩ h 6 tuyến hệ tọa độ, độ cao nhà nước 1972.
Cơ sở khống chế mặt bằng của bản đồ địa chính là hệ tọa độ các cấp (I,II,III,IV), lưới địa chính cơ sở, lưới địa chính cấp I,II. Trên cơ sở các điểm tọa độ này phát triển khống chế đo vẽ tam giác nhỏ hoặc đường chuyền kinh vĩ cấp 1,2. Cho đến nay hệ quy chiếu quốc gia HN-72 không đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật mà thực tế đang đòi hỏi nên cần phải xây dựng hệ tọa độ quốc gia mới. Hệ tọa độ quốc gia phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Thống nhất trên địa bàn toàn quốc.
- Độ chính xác cao nhất trên cơ sở hợp với trị đo hiện tại là chủ yếu, khi cần thiết kế có thể bổ sung không đáng kể. - Tạo điều kiện sử dụng những phương pháp xử lý toán học hiện đại theo phương án để có kết quả tin cậy tuyệt đối. Hiện nay, các nước trong khu vực Đông Nam Á đều đã thay đổi hệ quy chiếu quốc gia phù hợp với đặc điểm của từng nước. Ở Việt Nam theo quyết định số 83/2000/QĐ-TT của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng hệ quy chiếu và hệ tọa độ quốc gia VN-2000 sử dụng ELIPXOIT WGS-84 toàn cầu.
- Điểm gốc tọa độ quốc gia điểm N00 (điểm gốc của lưới GPS cấp “0”)đặt trong khuôn viên Viện Nghiên cứu Địa chính (nay là Viện khoa học Đo đạc và bản đồ) thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đường Hoàng Quốc Việt – Hà Nội - Lưới chiếu tọa độ phẳng: lưới chiếu UTM quốc tế. - Chia múi và phân mảnh hệ thống hiện hành có chú thích danh pháp quốc tế.