Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chương 2: Khảo sát thực trạng ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Trường Đại học Mở Hà Nội. Chương 3: Giải pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo theo tín chỉ tại Trường Đại học Mở Hà Nội. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Để có cơ sở khoa học định hướng giải quyết vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ đối với loại hình đào tạo mở, trước tiên tiến hành nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản.
Trong chương này trình bày tổng quan những kết quả nghiên cứu trên thế giới và trong nước cho đến nay về các nội dung: Đào tạo theo HTTC, QLĐT theo HTTC, giới thiệu về loại hình đào tạo mở và vấn đề QL ứng dụng CNTT trong ĐT theo HTTC nói chung và trong loại hình đào tạo mở nói riêng. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ 1. Trên thế giới Từ đầu thế kỷ XX, hàng nghìn công trình nghiên cứu cơ bản về lý luận cũng như nghiên cứu triển khai ĐT theo HTTC đã sớm xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Có thể kể ra một số kết quả nghiên cứu điển hình như là các công trình của các tác giả: G. Kurre (2013)… Trong gần nửa thế kỷ qua, các công trình nghiên cứu về đào tạo theo hệ thống tín chỉ trên thế giới đã tập trung vào bốn nội dung chính sau đây: 1. Lịch sử hình thành và phát triển của phương thức đào tạo theo tín chỉ Phương thức đào tạo theo HTTC được xem là chính thức ra đời từ khoảng năm 1872 tại Đại học Harvard (Hoa Kỳ). Sau đó không lâu hệ thống đó đã được áp dụng ngày càng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như các nước Bắc Mỹ, Liên minh Châu Âu, rồi mở rộng sang Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun,.
và nhiều nước khác. Công trình nghiên cứu về “Hệ thống tín chỉ tại các trường ĐH Mỹ: Lịch sử 10 phát triển, định nghĩa và cơ chế hoạt động” [42], của Cary J. Trexler, Khoa Giáo dục Sư phạm Trường ĐH California - Davis, Mỹ, là một tổng quan đầy đủ về sự xuất hiện, lịch sử phát triển của phương thức ĐTTC tại các trường đại học của Mỹ cũng như cơ chế hoạt động và các lợi ích mà phương thức đào tạo này đem lại cho nền giáo dục đại học của Mỹ từ hơn một thế kỷ nay. Nghiên cứu về sự chuyển đổi HTTC giữa Mỹ và các nước trên thế giới, Trường Đại học Penn State (Bang Pennsylvania, Mỹ) đã công bố công trình nghiên cứu “Study on the use of credit systems in higher education cooperation between the EU and the US” (Nghiên cứu về sử dụng HTTC trong sự hợp tác giáo dục đại học giữa Mỹ và châu Âu) [75].
Trong tác phẩm đó đã phân tích so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa hệ thống ECTS (European Credit Transfer System – Hệ thống chuyển đổi tín chỉ châu Âu) và USCS (United State Credit Systems - HTTC Mỹ). Sự cần thiết phải chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo tín chỉ Bên cạnh nghiên cứu cơ bản rất có giá trị của Cary J. Trexler còn có các công trình nghiên cứu khác về ĐT theo HTTC ở bậc đại học của Mỹ như công trình của G. Dietrich đã nêu vai trò thiết thực, cần thiết của HTTC tại cuốn “The emergence of the credit system in American Higher Education” (Sự trỗi dậy của HTTC trong giáo dục đại học ở Mỹ) [57].
Hội thảo về đào tạo (ĐT) theo HTTC do ASEM Education Secretariat (Văn phòng giáo dục các quốc gia thành viên Á-Âu) tổ chức vào tháng 4/2010 với sự tham dự của 40 chuyên gia GDĐH Á-Âu đã công bố kết quả nghiên cứu “Credit Systems and Learning Outcomes in ASEM Member Countries” đã nhấn mạnh rằng: ĐT theo HTTC là xu hướng toàn cầu và là một trong những điều kiện để các nước nói chung và các nước thành viên ASEM, hội nhập với đào tạo đại học trên toàn thế giới. Ở Đông Nam Á, nhà quản lý giáo dục Vipat Kuruchittham đã công bố nghiên cứu “Cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa giáo dục đại học châu Á: “Hệ thống chuyển đổi tín chỉ và bảo đảm chất lượng” [45] trong đó trình bày khái quát thông tin về cơ chế thúc đẩy hợp tác và hài hòa GDĐH ở Châu Á, nhấn mạnh đến “Thách thức của toàn cầu hóa với cộng đồng ASEAN, sự cần thiết đẩy nhanh triển khai hợp tác việc chuyển đổi tín chỉ và đảm bảo chất lượng ở các nước châu Á và ASEAN thông qua Chương trình trao đổi sinh viên ASEAN”. Những đặc trưng cơ bản của đào tạo theo hệ thống tín chỉ James M. Heffernan, trong bài viết “The Credibility of the Credit hour: The History, Use and Shortcomings of the Credit System” (Tín nhiệm của giờ tín chỉ: 11 Lịch sử, Sử dụng và những nhược điểm của HTTC) [65] đã trình bày tổng quan HTTC với các nội dung về khái niệm, qui trình đào tạo, ưu nhược điểm, điều kiện tiên quyết để chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng HTTC đối với các nước đang phát triển; bài học kinh nghiệm của Mỹ và thế giới qua triển khai ĐT theo HTTC.
Hai hệ thống tín chỉ đang được sử dụng rộng rãi là: Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ -the United States Credit System - USCS - được thực hiện từ đầu thế kỷ XX và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của châu Âu - the European Credit Transfer System - ECTS - xây dựng từ khoảng năm 1989 và được Hội đồng châu Âu công nhận là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong các nước thành viên EU từ năm 1997. ECTS là hệ thống phát triển rộng rãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội châu Âu. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa cụ thể về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học.
Quann, ở trường Đại học Washington là người đã đề xuất các định nghĩa về những khái niệm: “tín chỉ”, “giờ tín chỉ”, và “học chế tín chỉ” hiện nay đang được sử dụng phổ biến [66]. Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ Trong quá trình nghiên cứu triển khai ĐTTC, các nhà nghiên cứu Trung quốc Jinsong Zhang, Changliu Wang và Lulu Dong đã công bố bài viết “Analysis of restrictive factors on the university credit system in China” (Phân tích những yếu tố hạn chế trong ĐT theo HTTC ở trường ĐH Trung Quốc) [68] trong đó chủ yếu đi sâu phân tích những khó khăn trong ĐT theo HTTC ở các trường ĐH Trung quốc, đặc biệt nhấn mạnh về công tác quản lý, hệ thống quản lý, qui chế tự chủ của các trường ĐH chưa đáp ứng với yêu cầu ĐT theo HTTC. Từ những năm đầu khi hình thành hệ thống ĐTTC, các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới về quản lý ĐTTC, một phần khá lớn tập trung vào công tác quản lý qui trình đào tạo và chức năng của những tác nhân hoạt động trong qui trình đó. Tiếp đó, việc nghiên cứu hệ thống quản lý đào tạo và quản lý kiểm tra chất lượng của phương thức ĐTTC mới dần dần được coi trọng.
Tài liệu “Quản lý chương trình đào tạo đại học: thực hiện mục tiêu chung, 1994 (Managing the University Curiculum: Making Common Cause)” [67] của các tác giả Jean Bocock & David Watson là một công trình quan trọng xuất hiện rất sớm, nghiên cứu và tổng hợp các vấn đề liên quan 12 đến việc QLĐT trong các nhà trường, trước những thay đổi lớn lao hiện tại trong môi trường đại học gắn với sự phổ biến của phương thức ĐT theo HTTC. Tuy nhiên tài liệu này chỉ mới nghiên cứu sâu về quản lý nội dung và khối lượng ĐT mà chưa đề cập đúng mức đến hệ thống QL cụ thể quá trình đào tạo theo HTTC. Về công tác quản lý ĐTTC ở bậc đại học, các nhà quản lý giáo dục Robert Allen, Geoff Layer, Pollard Derek ở Anh đã xuất bản công trình nghiên cứu “HTTC - Phương tiện cho sự thay đổi trong các trường ĐH và CĐ (Credit-Based System as Vehicle for Change in Universitues and Colleges” [76]. Trong tài liệu đó ngoài những nghiên cứu cơ bản về nội dung và qui trình ĐTTC ở trường đại học, cũng đã có một phần quan trọng đề cập đến những nghiên cứu sâu về hệ thống quản lý phương thức ĐTTC.
Gần đây hơn, David Middlewood & Neil Burton trong tài liệu: “Quản lý chương trình giảng dạy, 2001 (Managing the Curriculum)” [55] đã trình bày tổng hợp các nội dung liên quan đến quản lý chiến lược đào tạo vĩ mô cũng như đến vai trò và nhiệm vụ của con người ở từng vị trí quản lý, tổ chức và thực hiện quá trình đào tạo tại mỗi vị trí cụ thể trong toàn bộ hệ thống. Tóm lại: Việc nghiên cứu thực hiện phương thức ĐTTC không phải là một trào lưu mà thực sự trở thành một xu thế trên toàn thế giới không thể đảo ngược. Chính vì thế đã có khá nhiều nghiên cứu có liên quan đến ĐT theo HTTC ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các nghiên cứu đi sâu phân tích sự cần thiết phải chuyển đổi từ ĐT theo niên chế sang ĐT theo HTTC cũng như những lợi ích mà ĐT theo HTTC mang lại cho người học.
Bên cạnh đó, những khía cạnh quan trọng khác như nội hàm, những đặc trưng cơ bản, chương trình ĐT theo HTTC phải như thế nào cũng được làm rõ. Cùng với những nghiên cứu cơ bản về nội dung công tác đào tạo theo HTTC, vấn đề quản lý ĐTTC cũng đã sớm được tiến hành nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực quản lý ĐTTC trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt từ đầu thiên niên kỷ này là cơ sở lý luận vững chắc đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ của phương thức ĐTTC trên toàn thế giới trong thời đại hiện nay. Ở Việt Nam Ở trong nước, phương thức đào tạo theo HTTC đã được một vài trường đại học ở Việt Nam nghiên cứu áp dụng từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước.