CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN VE UNG DỤNG CÔNG NGHỆ SO TRONG CONG TÁC KE TOÁN TẠI KHÁCH SAN 1. Khái niệm ứng dụng công nghệ số trong công tác kế toán 1. Công nghệ số là gì? Theo Cơ quan nghiên cứu Khoa học và Công nghệ CSIRO (2019), Công nghệ số được hiểu là việc ứng dụng sự phát triển CNTT như: internet, thiết bị số thông minh, điện thoại di động làm nền tảng cho quá trình số hoá và phát triển kinh tế số tại một sô ngành, lĩnh vực kinh tê và quản lý nhà nước. Cu thé với các lĩnh vực kinh tế như lĩnh vực thương mại và thương mại điện tử, internet cùng với các nền tảng thương mại điện tử và ứng dụng thanh toán sẽ được các doanh nghiệp sử dụng như là một công cụ hoặc nguồn lực mới dé phát triển kinh doanh và cạnh tranh.
Qua đó, thuật ngữ công nghệ số được tác giả sử dụng như một thuật ngữ kinh tế, mà trong đó thành tựu khoa học và sự phát triển của lĩnh vực CNTT nói chung được xem là nền tảng và động lực phát triển của các mô hình kinh tế số và quá trình chuyên đổi số. Công nghệ số, ngoài chức năng kỹ thuật, còn hàm chứa trong đó các ý tưởng sáng tạo, đổi mới về kinh doanh cũng như quản lý bao gồm cả quan lý hành chính của Nhà nước. Khái niệm về Công nghệ số theo Luật chuyền giao Công nghệ (2017), được hiểu một cách cơ bản như sau: “Công nghệ số là tập hợp các giải pháp, bí quyết trong ngành Công nghiệp Công nghệ thông tin được sử dụng làm nền tảng cho quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp hoặc tạo ra mô hình kinh doanh mới”. 10 Như vậy, có thê thấy, Công nghệ số chỉ là thuật ngữ được sử dụng trong các nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế số, nếu nhìn từ góc độ pháp lý, khái niệm này vừa cũ và vừa mới nếu mở rộng phạm vi ứng dụng.
Ứng dụng công nghệ số là gì? Theo Công ty Nghiên cứu và Tư vấn công nghệ thông tin Gartner, “Chuyên đổi số là việc ứng dụng công nghệ trong thay đổi mô hình kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tạo thêm nhiều cơ hội và giá trị mới, giúp doanh nghiệp gia tăng tốc độ tăng trưởng và đạt doanh số tốt hơn.” Theo Microsoft, chuyên đổi số chính là tái cau trúc tư duy trong phối hợp giữa dữ liệu, quy trình và con người nhăm tạo ra nhiều giá trị mới. Tuy nhiên, cũng có định nghĩa cho răng, chuyền đổi số không chi ứng dụng công nghệ trong thay đổi mô hình kinh doanh, mà còn tham gia vào tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp. Nếu đạt hiệu quả, chuyên đổi số sẽ thay đổi toàn diện (transformation) cách thức doanh nghiệp hoạt động, từ đó tăng hiệu quả hợp tác, tối ưu hóa hiệu suất làm việc và mang lại giá trị cho khách hàng. Đối với Việt Nam, chuyên đổi số là quá trình thay đổi mô hình cũ, mô hình truyền thống sang dạng doanh nghiệp số, dựa trên những ứng dụng công nghệ mới, như Big data, IoT, điện toán đám mây.
nhằm thay đổi phương thức điều hành, hoạt động kinh doanh, quản lý chăm sóc khách hàng, quy trình làm việc và văn hóa lao động trong doanh nghiệp. Từ đó, có thé nhận định ứng dụng công nghệ số là hoạt động ứng dụng quy trình số hóa vào doanh nghiệp, bao gồm các hoạt động xây dựng quy trình tự động hóa, giảm tải các hoạt động offline, thủ công, lưu trữ và bảo mật để tạo ra môi trường làm việc online nhanh chóng, thuận tiện. Nhìn chung, ứng dụng công nghệ sô giúp nâng cao hiệu quả công việc và loại bỏ hoàn toàn việc làm thủ công. Công nghệ số sẽ là xu hướng tất yếu cả trong hiện 11 tại và tương lai.
Mô hình hoạt động sẽ có san dé tiép tuc trién khai dich vu cung cap và tối ưu hóa quy trình khác với ứng dụng công nghệ thông tin. Do đó, việc áp dụng công nghệ vào hoạt động kế toán là một trong những ứng dụng công nghệ số trong lĩnh vực kế toán. Cụ thé, sự thay đôi số ảnh hưởng đến các khía cạnh như phương pháp, chức năng và quy trình của nghiệp vụ kế toán kinh doanh. Điêu này sẽ giúp kê toán viên làm việc nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Các loại hình công nghệ sô? Theo ‘Cam nang Chuyên đổi sé’ do Bộ Thông tin và Truyền thông phát hành tái bản (2021), những công nghệ số tiêu biểu thúc đây chuyên đổi số bao gồm: trí tuệ nhân tạo (AJ), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud). Theo định nghĩa cua Bellman (1978): Trí tuệ nhan tao (Artificial Intelligence — viết tắt là AI) là tự động hoá các hoạt động phủ hợp với suy nghĩ con người, chang hạn các hoạt động ra quyết định, giải bài toán,. Rich va Knight (1991) thì lại cho rằng: Trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm thế nào dé máy tinh có thé thực hiện những công việc mà hiện con người còn làm tốt hơn máy tính. Đối với Wimston (1992), trí tuệ nhân tạo là lĩnh vực nghiên cứu các tính toán dé máy có thể nhận thức, lập luận và tác động.
Như vậy, chúng ta có thé hiểu trí tuệ nhân tao là một ngành khoa học máy tinh. Nó xây dựng trên một nền tảng lý thuyết vững chắc và có thê ứng dụng trong việc tự động hóa các hành vi thông minh của máy tính. Giúp máy tính có được những trí tuệ của con người như: biết suy nghĩ và lập luận đề giải quyết van đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi. Theo định nghĩa cua Gartner (2012): “Big Data là tài sản thông tin, mà những thông tin này có khối lượng dữ liệu lớn, tốc độ cao và đữ liệu đa dạng đòi hỏi phải có công nghệ mới dé xử lý hiệu quả nhằm đưa ra được các quyết định hiệu quả, khám phá được các yêu tô ân sâu trong dữ liệu và tôi ưu hóa được quá trình xử lý dữ liệu”.
12 Theo Liên minh Viễn thông quốc tế (International Telecommunication Union - ITU) (2012): “Internet of Things (viết tắt là IoT) là một cơ sở hạ tầng toàn cầu đối với xã hội thông tin làm cho các dich vụ tiên tiến có sẵn bang cách liên kết đối tượng (vật lý hay ảo) thông qua các thông tin và truyền thông công nghệ tương thích hiện có hoặc phát triển". Như vậy, có thể hiểu IoT là khái niệm dùng dé chỉ việc mọi vật được kết nối với nhau qua mang Internet, trong đó người dùng có thé chia sẻ, trao đổi, khai thác dữ liệu và kiểm soát các thiết bị của minh qua mang Internet. Theo Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Mỹ (NIST), điện toán đám mây được định nghĩa như sau: "Cloud Computing là mô hình dịch vụ cho phép người truy cập tải nguyên điện toán dùng chung (mạng, server, lưu trữ, ứng dụng, dịch vụ) thông qua kết nối mạng một cách dễ dàng, mọi lúc, mọi nơi, theo yêu cầu. Tài nguyên điện toán đám mây có thê được thiết lập hoặc hủy bỏ nhanh chóng bởi người dùng mà không cân sự can thiệp của Nhà cung câp dịch vụ".
Theo ông Chris Sheedy - chuyên gia công nghệ thông tin của Viện Kế toán Công chứng Anh: Blockchain là một hệ thống có thể coi là “số cái kế toán” - nơi giao dịch được thực hiện bởi một bên tới mọi người trong cùng một mạng lưới bằng một phương thức cực kỳ chính xác và bảo mật. Nếu một lĩnh hoặc một hệ thống ứng dụng công nghệ blockchain, van đề bảo mật an toàn sẽ thay đổi. Theo đó, chúng ta can chú trọng không chỉ là sự đảm bảo về tài sản và sự chấp thuận của người khác. Thay vào đó, chúng ta cần chú trọng vào sự ràng buộc giữa bản ghi blockchain và thế giới vật chất, rộng hơn là vào việc phản ánh giá trị kinh tế thực của giao dịch blockchain.
Công tác kế toán tại doanh nghiệp Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 quy định về các nội dung cơ bản về tổ chức công tác kế toán bao gồm (1) tô chức bộ máy kế toán, (2) tổ chức vận dụng chứng từ kế toán, (3) tô chức hệ thống tài khoản kế toán, (4) tổ chức hệ thống số kế toán, (5) tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán, (6) tổ chức công tác kiểm tra kế toán, (7) tổ chức trang bị ứng dụng công nghệ xử lí thông tin trong công tác kế toán. 13 Trong bài nghiên cứu Vii Thi Tuyết Mai (2019), tac giả đề cập đến nội dung về công tác kế toán dựa trên quy trình xử lí thông tin kế toán, đóng một vai trò không thé thiếu trong quá trình quản lý và theo dõi tài chính của một tổ chức hay doanh nghiệp. Quy trình này bao gồm ba công đoạn quan trọng là ghi nhận, xử lý, và báo cáo. Thứ nhất, ghi nhận dit liệu, dựa vào sự kiện kinh tế, kế toán tiến hành lập thu thập dir liệu thông tin liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong hoạt động doanh nghiệp như thông tin khách hàng, chứng từ, thông tin thanh toán.
Thứ hai, xử lý và lưu trữ đữ liệu, thông tin kế toán sau khi được ghi nhận, tiễn hành phân loại, sắp xếp, bóc tách ghi số nhật ký. Sau đó, kế toán ghi nhận vào số cái đối với phân hệ tông hợp và sé chỉ tiết đối với kế toán chỉ tiết. Cuối kỳ, kế toán thực hiện việc kiểm tra số liệu tổng hợp thông qua việc lập Bảng cân đối tài khoản, tiễn hành kiểm tra số liệu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chỉ tiết bằng cách đối chiếu giữa sô cái với các sô tông hợp chi tiêt tương ứng. Thứ ba, kêt xuât báo cáo, căn cứ vào kêt quả xử lý dữ liệu kê toán của giai đoạn hai, kê toán lập các báo cáo tài chính hàng năm bao gôm bao gôm bảng cân đôi kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyền tiền tệ Với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, mô hình hoạt động của các quy trình trong công tác kế toán đã trải qua sự chuyên đổi và cải tiến đáng kê.
Thứ nhất, ở giai đoạn đầu là ghi nhận dữ liệu, với các nghiệp vụ phát sinh như thu chỉ tiền, theo đõi và quản lý công nợ, hoặc phát sinh từ các bộ phận kinh doanh, sản xuất, cung ứng, quan lý vật tư, nhân luc.