Đặt vấn đề Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động, là nhân tố đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội loài người. Dân số ngày càng tăng trong khi đất đai lại có hạn, con người sử dụng đất cùng với nhiều yếu tố khác đã gây không ít những ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên đất. Trên thực tế đã để lại những hậu quả nghiêm trọng do việc sử dụng đất chưa hợp lý như đất bị rửa trôi, xói mòn, đất bị sa mạc hóa. Việc thiếu đất sản xuất, an toàn lương thực không được đảm bảo đã và đang trở thành mức báo động toàn cầu.
Để giải quyết vấn đề trên, các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu, đánh giá và đã đưa ra các phương án sử dụng đất hợp lý nhằm góp phần tích cực trong việc sử dụng, quản lý cũng như bảo vệ mộ cách có hệ thống nhất nguồn tài nguyên đất trên thế giới và quốc gia. Ngày nay, công nghệ thông tin đã và đang không ngừng phát triển mạnh mẽ. Nó được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đầu thập kỷ 70, công nghệ GIS ra đời và ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực nghiên cứu.
GIS hỗ trợ chúng ta trong công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh và hầu hết các lĩnh vực quản lý các hệ thống tài nguyên thiên nhiên khác trong đó có quản lý đất đai, môi trường là những lĩnh vực đang được ưu tiên hàng đầu. Cổ Lũng là xã nằm ở phía Nam thuộc vùng tương đối bằng phẳng so với huyện Phú Lương, địa hình mang đặc điểm trung du miền núi Bắc Bộ. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1. Đây là vùng có vị trí địa lí tương đối thuận lợi cho việc bố trí cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp.
Để hội nhập với xu hướng phát triển kinh tế chung của tỉnh và khu vực. Cổ Lũng cần phải có định hướng cụ thể trong phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, ổn định và vững chắc từ nay đến năm 2020 nhằm tạo đà cho những năm tiếp theo. 2 Việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là một trong những nội dung có ý nghĩa rất quan trọng làm cơ sở để so sánh với các yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình sử dụng đất nhằm sử dụng đất một cách hiệu quả và lâu bền, xây dựng một ngành nông nghiệp đa canh đang là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta nói chung là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta nói chung và ở huyện Phú Lương - xã Cổ Lũng nói riêng. Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của Th.s Ngô Thị Hồng Gấm, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ công tác đánh giá sản xuất nông nghiệp xã Cổ Lũng- huyện Phú Lương- tỉnh Thái Nguyên”.
Mục đích của đề tài - Nghiên cứu, thu thập các số liệu về đặc điểm và tính chất đất đai của xã Cổ Lũng, xác định các chỉ tiêu phân cấp cho bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho mục tiêu đánh giá đất trong sản xuất nông nghiệp của xã. - Xây dựng các bản đồ đơn tính. - Ứng dụng bộ phần mềm GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai xã Cổ Lũng trên cơ sở các xây dựng chồng xếp các bản đồ đơn tính. - Xác định được các đơn vị đất đai và mô tả được các đơn vị đất đai trên bản đồ đơn vị đất đai thành lập.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Ứng dụng công nghệ GIS vào việc thành lập bản đồ đơn vị đất đai, phục vụ cho công tác đánh giá phân hạng đất đai nhằm xác định được các loại hình sử dụng đất (LUT - Land Use Type) thích hợp. - Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ công tác đánh giá theo FAO các LUT tìm được sẽ là cơ sở phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững tại xã Cổ Lũng - huyện Phú Lương. - Ứng dụng được lợi ích của công nghệ GIS trong việc làm bản đồ.
- Trong quá trình thu thập số liệu sử dụng phương pháp PRA tránh tình trạng áp đặt và thiếu khách quan khi thực hiện công tác thành lập bản đồ đơn 3 vị đất đai phục vụ cho công tác đánh giá đất đai theo FAO. Ý nghĩa thực tiễn - Xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai của Cổ Lũng - huyện Phú Lương. - Giúp cho công tác quản lý và sử dụng đất đai của xã tốt hơn. - Xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho công tác đánh giá đất đai ở xã nhằm đưa ra các kiểu sử dụng đất thích hợp cho từng đơn vị đất.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về sử dụng đất nông nghiệp 2. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam và trên thế giới * Thế giới Hiện nay, trên thế giới có khoảng 800 triệu người sống thiếu lương thực, 1,3 tỷ người sống trong cảnh nghèo khổ và gần 17 triệu người chết hàng năm vì các loại bệnh tật sinh ra do mức sống quá thấp [9]. Vì vậy xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực là một trong những chiến lược quan trọng của việc phát triển kinh tế.
Tổng diện tích tự nhiên của cả thế giới là 14,8 tỷ ha, trong đó có khoảng 3,3, tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ, còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 20%, Châu Đại Dương chiếm 6%. Như vậy Châu Á và Châu Phi có tiềm năng đất nông nghiệp lớn nhất. Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 1,2 ha, trong đó: Mỹ 2 ha, Bungari 0,7 ha, Pháp 0,62 ha, Nhật 0,065 ha.
[11] * Việt Nam Việt Nam là một nước nông nghiệp với tổng diện tích tự nhiên là 33.857 ha, thuộc loại trung bình trên thế giới. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 10.1: Diện tích cơ cấu các loại đất của toàn quốc Diện tích (ha) Tỷ lệ (%) Đất nông nghiệp 26.160 78,87 Đất phi nông nghiệp 3.186 11,09 Đất chưa sử dụng 3. Biểu đồ cơ cấu các loại đất trên toàn quốc Về diện tích, Việt Nam đứng thứ 59 trên thế giới, trong đó 3/4 diện tích là đồi núi, diện tích đất chứa sử dụng chiếm tỉ lệ cao. Đất đai phân bố không đều giữa các vùng, những vùng có diện tích đất tự nhiên lớn nhưng tỉ lệ đất nông nghiệp lại nhỏ lại gây khó khăn trong quá trình quản lý sản xuất nông nghiệp tập trung, cụ thể: - Vùng Trung du Bắc Bộ: Chiếm 31,1% diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,47 % diện tích đất nông nghiệp của cả nước.
- Vùng Đồng bằng Sông Hồng chiếm 3,78% diện tích đất tự nhiên và chiếm 8,7% diện tích đất nông nghiệp của cả nước. - Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 11,59% diện tích đất tự nhiên nhưng chiếm 34,3% diện tích đất nông nghiệp của cả nước. Dân số nước ta hiện nay có trên 90 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới. Do đó diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp chỉ bằng 1/7 mức trung bình thế giới.
Theo thống kê, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người trên thế giới là 3,0 ha, còn ở Việt Nam chỉ có 0,41 ha. Trong khi đó số hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 80% dân số, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người chỉ có 0,12 ha. Trong những năm qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nền sản xuất nông nghiệp của nước ta đã có sự phát triển vượt bậc. Từ một nước thiếu lương thực chúng ta đã trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 trên thế giới.
6 Hiện nay, nước ta vẫn thuộc nhóm 40 nước có nền kinh tế kém phát triển, vì vậy đặc điểm hạn chế về mặt sử dụng đất đai ngày càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc sử dụng đất đai phải dựa trên cơ sở khoa học. Vì vậy chúng ta cần đi trước đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ thuật để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả và tiết kiệm nhất. Với mỗi mô hình sản xuất nông nghiệp cần được đánh giá và chọn lựa một cách khoa học phù hợp với từng đơn vị đất cụ thể. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững Lịch sử phát triển của loài người gắn với việc khai thác và sử dụng đất đai.
Trước đây khi dân số còn ít, để đáp ứng nhu cầu của con người thì việc khai thác từ đất đai là quá dễ dàng và chưa có ảnh hưởng gì lớn đến tài nguyên đất đai. Từ những năm đầu thế kỷ 19 khi dân số thế giới đã trở nên ngày một đông hơn, đặc biệt là các nước đang phát triển thì sức ép về đảm bảo lương thực trước sự gia tăng của dân số ngày càng mạnh mẽ đối với việc khai thác và sử dụng đất đai. Những vùng đất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt và không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, việc mở rộng diện tích canh tác lên các vùng đất không thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp để lại hậu quả là các vùng đất thoái hóa, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng. Vào cuối những năm của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, loài người đã phải đương đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp về môi trường.
Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt ra đó là phát triển đã được đặt ra đó là phát triển bền vững. Mục tiêu của phát triển bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đất, đồng thời phải khôi phục các vùng đất đã bị thoái hóa và bảo vệ không gây ô nhiễm môi trường.