Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính và bản đồ hiện trạng sử dung đất. Hệ thống bản đồ địa chính đối với công tác quản lý đất đai Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính [4] Bộ bản đồ địa chính (BĐĐC) có thể gồm nhiều tờ bản đồ ghép lại.
Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầm lẫn và dễ dàng vận dụng trong quá trình thành lập, sử dụng bản đồ và quản lý đất đai, ta cần xác định rõ những yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính bao gồm: Yếu tố về điểm; đường; thửa đất, thửa đất phụ; lô đất, khu đất; xứ đồng, thôn, xóm; xã, phường. Nội dung bản đồ địa chính[4] BĐĐC là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính vì vậy trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai như: ĐIểm khống chế độ tọa độ và độ cao; địa giới hành chính các cấp; Ranh giới thửa đất; ranh giới sử dụng đất; loại đất; các công trình xây dựng trên đất; hệ thống giao thông, mạng lưới thủy văn; các địa vật quan trọng; mốc giới quy hoạch và dáng đất. Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính BĐĐC được thành lập theo các tỷ lệ 1:500; 1:1. Việc chọn tỷ lệ BĐĐC căn cứ vào các yếu tố cơ bản như: Mật độ thửa đất, loại đất cần đo vẽ, khu vực đo, yêu cầu độ chính xác của bản đồ thành lập hay khả năng kinh tế kỹ thuật của đơn vị cần đo vẽ bản đồ.
Như vậy để đảm bảo chức năng mô tả, BĐĐC được thành lập ở tỷ lệ lớn và khi mật độ các yếu tố nội dung bản đồ cần thể hiện càng dày, quy mô diện tích thửa đất càng nhỏ, giá trị đất và yêu cầu độ chính xác càng cao tỷ lệ BĐĐC càng phải lớn hơn. Có thể tham khảo tỷ lệ BĐĐC theo (Bảng 1. Quan hệ giữa loại đất, khu vực đo và tỷ lệ bản đồ địa chính Loại đất Khu vực đo vẽ Tỷ lệ bản đồ Đất ở Đô thị lớn 1: 500, (1:200) Thị xã, Thị trấn 1: 500 Nông thôn 1: 1000 Đất Nông nghiệp Đồng bằng Bắc bộ 1: 2000, 1: 1000 Đồng bằng Nam bộ 1:5000, 1: 2000 Đất lâm nghiệp Đồi núi 1: 5000, 1: 10000 Đất chưa sử dụng Núi cao 1:10000, 1: 25000 1. Các thành phần và nội dung, đặc điểm chính của hệ thống bản đồ địa chính dạng số Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng hình ảnh bản đồ.
Bản đồ số bao gồm các thành phần cơ bản sau: Thiết bị ghi dữ liệu; Máy tính; Cơ sở dữ liệu (CSDL) bản đồ; Thiết bị thể hiện bản đồ. Bản đồ số được tổ chức và lưu trữ gọn nhẹ, khác với bản đồ truyền thống ở chỗ: Bản đồ số chỉ là các file dữ liệu ghi trong bộ nhớ máy tính và có thể thể hiện ở dạng hình ảnh giống như bản đồ truyền thống trên màn hình máy tính. Nếu sử dụng các máy vẽ thì ta có thể in được bản đồ trên giấy giống như bản đồ thông thường. Bản đồ địa chính số là loại bản đồ chuyên ngành đất đai được thiết kế, biên tập, lưu trữ và hiển thị trong máy tính như các loại bản đồ số thông thường.
Nhờ các máy tính có khả năng lưu trữ khối lượng thông tin lớn, khả năng tổng hợp, cập nhật, phân tích thông tin và xử lý dữ liệu bản đồ phong phú nên bản đồ số được ứng dụng rộng rãi và đa dạng hơn rất nhiều so với bản đồ giấy truyền thống. Bản đồ số có một số đặc điểm sau: - Mỗi bản đồ số có một hệ quy chiếu nhất định, thường là hệ quy chiếu phẳng. Các thông tin không gian được tính toán và thể hiện trong hệ quy chiếu đã chọn. - Mức độ đầy đủ các thông tin về nội dung và độ chính xác các yếu tố trong bản đồ số hoàn toàn đáp ứng yêu cầu các tiêu chuẩn bản đồ theo thiết kế ban đầu.
6 - Bản đồ không cần định hình bằng đồ họa, thực chất là tập hợp có tổ chức các dữ liệu trong một hệ quy chiếu, không có tỷ lệ bản đồ như bản đồ thông thường. - Hệ thống ký hiệu trong bản đồ số thực chất là các ký hiệu của bản đồ thông thường đã được số hóa. Nhờ thế có thể thể hiện bản đồ dưới dạng hình ảnh trên màn hình hoặc in ra giấy. - Bản đồ số có tính linh hoạt hơn hẳn bản đồ truyền thống, có thể dễ dàng thực hiện các công việc và liên kết trên máy tính như: Cập nhật và hiện chỉnh các thông tin, chồng xếp, phân tích bản đồ, tạo ra các loại bản đồ khác và in ấn - Khi thành lập bản đồ số, các công đoạn đầu như thu thập và xử lý số liệu đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề cao.
- Các yếu tố bản đồ giữ nguyên được độ chính xác của dữ liệu đo đạc ban đầu, không chịu ảnh hưởng của sai số đồ họa. Việc sử dụng bản đồ số thuận lợi và có hiệu quả kinh tế cao, vì thế hiện nay trong ngành Trắc địa - Địa chính chủ yếu sử dụng kỹ thuật công nghệ mới để thành lập và sử dụng bản đồ số trong công tác quản lý đất đai. Một số vấn đề về bản đồ hiện trạng sử dụng đất [8] 1. Những quy định chung Bản đồ hiện trạng sử dụng đất (HTSDĐ) là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất theo quy định về chỉ tiêu kiểm kê theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê đất đai và được lập theo đơn vị hành chính các cấp, vùng địa lý tự nhiên – kinh tế và cả nước.
Nội dung của bản đồ HTSDĐ phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, trung thực HTSDĐ tại thời điểm thành lập bản đồ. Phương pháp thành lập bản đồ HTSDĐ được căn cứ vào mục đích, yêu cầu thành lập bản đồ HTSDĐ; tỷ lệ bản đồ nền; đặc điểm của đơn vị hành chính; diện tích, kích thước của các khoanh đất; mức độ đầy đủ, độ chính xác và tin cậy của các nguồn tài liệu hiện có; điều kiện thời gian, trang thiết bị kỹ thuật công nghệ và trình độ của lực lượng cán bộ kỹ thuật. Có nhiều phương pháp để thành lập bản đồ HTSDĐ cấp xã như: Phương pháp sử dụng BĐĐC hoặc BĐĐC cơ sở; Phương pháp sử dụng ảnh chụp từ máy bay, hoặc 7 vệ tinh có độ phân giải cao đã được nắn chỉnh thành sản phẩm ảnh trực giao; Phương pháp hiện chỉnh bản đồ HTSDĐ chu kỳ trước. Bản đồ HTSDĐ cấp huyện, cấp tỉnh, vùng địa lý tự nhiên - kinh tế và cả nước được thành lập theo công nghệ số bằng phương pháp tổng hợp từ bản đồ HTSDĐ của các đơn vị hành chính cấp dưới trực thuộc.
Tài liệu và yêu cầu kỹ thuật đối với bản đồ nền dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất - Tỷ lệ của bản đồ nền được lựa chọn dựa vào: kích thước, diện tích, hình dạng của đơn vị hành chính. Tỷ lệ của bản đồ nền cũng là tỷ lệ của bản đồ HTSDĐ [8] xem (Bảng 1. Tỷ lệ bản đồ nền dùng để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất Đơn vị thành lập bản đồ Tỷ lệ bản đồ Quy mô diện tích tự nhiên (ha) Cấp xã 1:1.000 Khi diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính xấp xỉ dưới hoặc trên của khoảng giá trị quy mô diện tích trong cột 3 của Bảng 1.2 thì được phép chọn tỷ lệ bản đồ lớn hơn hoặc nhỏ hơn một bậc. - Yêu cầu về nôi dung và tài liêu trong thành lâp bản đồ HTSDĐ hiện nay: 8 Tài liệu thành lập bản đồ HTSDĐ Căn cứ pháp lý Tài liệu bản đồ Các số liệu liên quan Tài liệu bản đồ để thành lập Tài liệu bản đồ để thành lập bản đồ bản đồ HTSDĐ cấp xã HTSDĐ cấp huyện, tỉnh, vùng địa lý tự nhiên – kinh tế và cả nước - Bản đồ nền; - Bản đồ nền; - Hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ - Hồ sơ địa giới hành chính, bản đồ và các trích lục kèm theo; và các trích lục kèm theo; - BĐĐC; Bản đồ địa chính cơ - Bản đồ HTSDĐ của các đơn vị sở; hành chính trực thuộc; - Bản đồ HTSDĐ chu kỳ trước; - Bản đồ HTSDĐ chu kỳ trước; - Các trích lục biến động SDĐ; - BĐ, trích lục kèm theo các - BĐ, trích lục kèm theo các quyết định giao đất, thu hồi đất, quyết định giao đất, thu hồi, cho cho thuê đất của các cơ quan có thuê đất của cơ quan có thẩm thẩm quyền; quyền; - Ảnh chụp từ máy bay hoặc ảnh - Ảnh chụp từ máy bay hoặc ảnh chụp từ vệ tinh có độ phân giải chụp từ vệ tinh có độ phân giải cao và có thời điểm chụp cách cao và có thời điểm chụp cách thời điểm thành lập bản đồ thời điểm thành lập bản đồ HTSDĐ không quá 1 năm; HTSDĐ không quá 1 năm.
- Các bản đồ chuyên đề liên quan. - Yêu cầu kỹ thuật đối với bản đồ nền: Bản đồ nền phải được thực hiện theo Hệ quy chiếu, Hệ tọa độ và sử dụng hệ thống tham số tính chuyển đã được quy định tại tài liệu[8], [10]. - Tài liệu bản đồ dùng để thành lập bản đồ nền là các bản đồ phải đảm bảo các quy chuẩn kỹ thuật quy định và được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Đối với các đơn vị hành chính cấp xã có BĐĐC hoặc bản đồ địa chính cơ sở ở nhiều tỷ lệ thì dùng các BĐĐC hoặc bản đồ địa chính cơ sở có tỷ lệ nhỏ nhất để thành lập bản đồ nền; 9 - Đối với các đơn vị hành chính là cấp huyện, cấp tỉnh, vùng địa lý tự nhiên kinh tế và cả nước thì dùng bản đồ địa hình có tỷ lệ từ trung bình đến nhỏ, ảnh chụp từ máy bay hoặc ảnh chụp từ vệ tinh đã được nắn chỉnh thành sản phẩm ảnh trực giao để thành lập bản đồ nền; - Độ chính xác chuyển vẽ các yếu tố nội dung cơ sở địa lý từ các bản đồ tài liệu sang bản đồ nền phải bảo đảm theo quy định tại [8].