Chương 1: Tổng quan đề tài Giới thiệu tổng quan đề tài, trình bày lý do chọn đề tài. Trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tính mới và ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài giúp cho người đọc hiểu rõ các thông tin của đề tài một cách tổng quan Chương 2: Phân tích hiện trạng Tiến hành phân tích vấn đề, hiện trạng về quy trình bảo vệ bản quyền hiện nay tại Việt Nam nói chung và MCV nói riêng. Bên cạnh đó, tiến hành nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp về hiện trạng quy trình bảo vệ bản quyền, tiềm năng và lợi ích của AI trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền nhằm phân tích, lập luận. Từ đó, tiến hành nghiên cứu định tính ở bước tiếp theo.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sơ bộ định tính: Trình bày mục tiêu, phương pháp, thiết kế mẫu, cách tiếp cận và thu thập dữ liệu, cách xử lý dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu định tính thu được, tiến hành phân tích và so sánh với dữ liệu thứ cấp để đưa ra kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và đề xuất 9 Đưa ra những thảo luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất giải pháp cho doanh nghiệp để tối ưu và nâng cao hiệu quả quy trình nghiên cứu. Nêu hạn chế của nghiên cứu và hướng đi cho các nghiên cứu trong tương lai. 10 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG Ở chương này, tác gỉa phân tích hiện trạng của hoạt động bảo vệ bản quyền sản phẩm truyền thông trong những năm gần đây để có một góc nhìn toàn diện về chủ đề.
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giới thiệu cơ sở lý luận về AI như giới thiệu về AI, những tiềm năng và lợi ích, các phương pháp, …dựa trên các nguồn thông tin có sẵn và được chọn lọc. Những thông tin này giúp tác giả có cơ sở để tiến nghiên cứu ở Chương 3.1 Hiện trạng hoạt động bảo vệ bản quyền sản phẩm truyền thông 2.1 Sự thay đổi về hành vi tiêu thụ sản phẩm truyền thông của khách hàng trong các năm gần đây Theo bài báo cáo Xu hướng phát triển Internet Việt Nam 2023 của Network đã nhận định sự phát triển mạnh mẽ của 77 triệu người dùng tại Việt Nam (tức chiếm hơn 79,1% dân số Việt Nam hiện nay). Đây là một con số thể hiện sự xu hướng tham gia mạnh mẽ của người dùng Việt Nam vào Internet đã đem lại cho các công ty nước ngoài và trong nước nhiều cơ hội, thách thức mạnh mẽ trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ truyền thông đến người tiêu dùng (VNETWORK, 2023). Về xu hướng công nghệ số tại Việt Nam vào năm 2023 đã có nhiều xu hướng thay đổi của người tiêu dùng.
Đến đầu năm 2023, theo thống kê số liệu kỹ thuật từ Google Việt Nam đã có 77,93 triệu người dùng Internet và chiếm hơn 79% trên tổng số dân hơn 99 triệu dân hiện nay. Mặt khác, số lượng người dùng dùng mạng xã hội hiện đã đạt con số 70 triệu, tương đương với 71% trên dân số hơn 99 triệu người (VNETWORK, 2023). Tổng số kết nối các thiết bị di động đã đạt đỉnh điểm với con số 161 triệu, tức tương đương với 164% tổng dân số hiện nay tại Việt Nam. Những dữ liệu này cho thấy Việt Nam có sự tham gia mạnh mẽ của người dùng vào Internet và xu hướng dùng mạng xã hội đáng kể của dân số.
Điều này cũng đã tạo ra những thuận lợi cho các công ty truyền thông tại Việt Nam (VNETWORK, 2023). Về xu hướng sử dụng mạng xã hội (Facebook, Tik Tok, Youtube, .) tại Việt nam trong năm 2023 bao gồm về số lượng người tham gia, tần số, mục đích, sự kết nối giữa công ty và người tiêu dùng có nhiều sự thay đổi rõ rệt. Vào tháng 1 năm 2023, 11 Việt Nam đã có hơn 70 triệu người dùng mạng xã hội, con số này vẫn tiếp tục gia tăng và không có dấu hiệu dừng lại trong thời gian gần đây. Tại đầu năm 2023, số lượng người dùng mạng xã hội tại Việt Nam có 64,4 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên, trong đó nữ có tỷ lệ cao hơn với 50,6% và nam là 49,4% (VNETWORK, 2023).
Đây là một tỷ lệ rất cao cho thấy sự tham gia mạnh mẽ của người dùng vào các nền tảng mạng xã hội hiện nay. Xu hướng này tạo ra một thị khách hàng tiềm năng lớn đối với các công ty tại Việt Nam. Tuy nhiên, các công ty cần cân đối mặt cạnh tranh và quản lý hình ảnh thương hiệu trên các nền tảng mạng xã hội để tiếp cận đúng tệp khách hàng mục tiêu của mình. Cụ thể, theo dữ liệu báo cáo của Meta trên nền tảng Facebook vào đầu năm 2023, Việt Nam có hơn 66 triệu người dùng.
Đã giảm 6% so với thống kê 2022, tuy nhiên đây vẫn là một con số lớn. Trong khoảng 10/2022 đến 1/2023, phạm vi tiếp cận quảng cáo các sản phẩm truyền thông trên nền tảng Facebook đã thay đổi tương đương hơn 67% trên tổng dân số tại Việt Nam. Với tỷ lệ cụ thể nữ là 50,2 % và nam là 49,8% (VNETWORK, 2023). Việc quảng cáo trên nền tảng Facebook đã mang đến cơ hội các công ty đa dạng hoá các sản phẩm truyền thông và tăng khả năng tiếp cận đối tượng khách hàng mục tiêu.
Bên cạnh đó, nền tảng Youtube cũng có nhiều sự thay đổi rõ rệt. Người dùng có xu hướng tương tác tốt với các chủ đề giải trí, học tập, quảng cáo tại Việt Nam. Theo báo cáo tài nguyên của Google năm 2023, nền tảng Youtube đã có hơn 63 triệu người dùn. Quảng cáo trên Youtube đã đạt hơn 80% trên tổng số người dùng Internet với tỷ lệ nữ là 49,5% và nam là 50,5% (VNETWORK, 2023).
Xu hướng người dùng còn được thể hiện qua sự thay đổi rõ rệt từ năm 2022 đến năm 2023 khi tăng 500 nghìn lượt tiếp cận bằng quảng cáo trên nền tảng Youtube tại Việt Nam (VNETWORK, 2023). Những số liệu này cho thấy xu hướng người tiêu dùng Việt Nam đã tăng lên đáng kể và mang đến các cơ hội tiếp cận khách hàng rộng lớn đối với các công ty truyền thông tại Việt Nam. Tik Tok cũng là một nền tảng nhận được nhiều sự quan tâm từ người tiêu dùng và có xu hướng thay đổi rõ rệt về ảnh hưởng của nền tảng này đến sự tham gia sáng tạo nội dung, sự kết nối của công ty đến khán giả tại Việt Nam. Theo số liệu được công bố của ByteDance năm 2023, Tik Tok có hơn 49 triệu người dùng từ 18 tuổi trở 12 lên.
Trong bối cảnh hiện nay, phạm vi tiếp cận quảng cáo của Tik Tok đã lên đến gần 69% tổng số người dùng với 49,7% nữ và 50,3% là nam. Xu hướng người dùng trên nền tảng đã gia tăng tiềm năng đối với các công ty truyền thông tại Việt Nam trong việc đưa ra những sản phẩm và chiến lược phù (VNETWORK, 2023). Từ những số liệu trên cho thấy người dùng có xu hướng thay đổi trong việc sử dụng và tiêu thụ sản phẩm truyền thông trong những năm gần đây. Họ có xu hướng sử dụng đa nền tảng (Facebook, Youtube, Tik Tok) thay vì chỉ đơn nền tảng với những mục tiêu và nhu cầu riêng.
Từ việc sáng tạo nội dung, quan tâm đến những nội dung giải trí, học tập và tìm kiếm thông tin cũng có nhiều sự thay đổi rõ rõ rệt. Điều này tạo cơ hội để các công ty truyền thông mở rộng sự tiếp cận đến khách hàng và cung cấp những sản phẩm, dịch vụ của mình. Tổng quan ngành truyền thông của khách hàng tại Việt Nam Nhận thấy được sự thay đổi về hành vi tiêu thụ sản phẩm truyền thông của khách hàng trong 3 năm gần đây, việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ truyền thông trở nên phổ biến. Đặc biệt, trong giai đoạn 2023 thì các công ty càng tập trung sâu hơn vào việc mang đến những sản phẩm truyền thông mang tính giải trí, thông tin, mang lại giá trị và có sự hấp dẫn người xem.
Thị trường truyền thông hiện nay tại Việt Nam có quy mô rất lớn. Theo bài viết của Doanh thu ngành thông tin truyền thông đạt hơn 3,4 triệu tỷ đồng của tạp chí UBND TP.HCM, trong năm 2021 đã ghi lại dấu ấn của ngành truyền thông khi số lượng các công ty thông tin truyền thông có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với các năm trước. Cụ thể, Việt Nam có đến 64.000 các công ty công nghệ số từ các công ty truyền thông lớn với quy mô quốc gia đến các đơn vị nhỏ, các startup và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực này, tăng thêm 5.600 công ty so với năm trước và có gần 1000 sản phẩm, dịch vụ của thương hiệu Việt Nam trong lĩnh vực này (Vân Ly, 2021). Bên cạnh đó, theo thống kê của Trung tâm Bản quyền Nội dung số Media Partners Asia, tình trạng vi phạm bản quyền các sản video phẩm truyền thông tại Việt Nam đang là vấn đề nhức nhối, đứng thứ 3 trên khu vực và nhận được rất nhiều sự quan tâm của nước ta.
Số lượng người dùng với mục đích trái phép có thể tăng lên 15,5 triệu trong năm 13 2022, và dự kiến sẽ làm thất thoát 348 triệu USD trong thời gian tới, tức dự kiến chiếm 18% doanh thu của toàn ngành video hợp pháp (Thủy Diệu & Tú Anh, 2022). Điều này có thể gây ra rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực như tước đi quyền lợi của chủ sở hữu, gây khó khăn trong việc phát triển các sản phẩm truyền thông và đặc biệt là ngành công nghệ sáng tạo. Đây là những con số ấn tượng trong thị trường truyền thông và thông tin tại bối cảnh Việt Nam cho các công ty trong nước và nước ngoài trong việc phát triển các sản phẩm, dịch vụ của mình đến tệp khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên, việc bảo vệ bản quyền sản phẩm video truyền thông cũng là một vấn đề rất quan trong trong ngành công nghệ sáng cần được giải quyết.
Bên cạnh những thuận lợi các công ty còn phải đối mặt với rất nhiều thử thách và khó khăn trong ngành, đòi hỏi các công ty luôn phải cập nhật và đổi mới để đáp ứng được thị hiếu của người dùng hiện nay. Về thuận lợi, hiện nay các công ty có cơ hội rất lớn khi có sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ và kỹ thuật số.