CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp của đề tài và kết cấu của đề tài. Những định hướng trên là tiền đề để tác giả nghiên cứu kỹ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn được trình bày ở các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỶ LỆ AN TOÀN VỐN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN 2. Cơ sở lý thuyết về Tỷ lệ an toàn vốn 2.
Khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn Ủy ban Basel là tổ chức được thành lập nhằm mục đích ngăn chặn sự sụp đổ của các ngân hàng trong giai đoạn lúc bấy giờ, năm 1974 ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập. Cho đến năm 1988, ủy ban Basel mới cho giới thiệu hệ thống đo lường vốn Basel I. Hệ thống đo lường vốn có hệ số an toàn vốn tối thiểu là 8%, có nghĩa là tỷ lệ vốn bắt buộc tính trên tổng tài sản điều chỉnh rủi ro ở mức an toàn là 8%. Basel I được phổ biến và áp dụng trong các nước thành viên G10 và một số nước khác trên thế giới.
Đến tháng 06/2004, để đáp ứng yêu cầu phát triển hệ thống ngân hàng, hiệp ước Basel về vốn mới ra đời, đẩy mạnh việc chấp thuận thông lệ và quy định một cách nghiêm ngặt hơn. Ủy ban Basel cũng đã đề xuất khung đo lường phiên bản Basel II có hiệu lực từ năm 2007 và hoàn thành thời gian chuyển đổi đến hết năm 2010. Tháng 9/2010, tiêu chuẩn vốn mới Basel III được ủy ban Basel đưa ra, có hiệu lực từ năm 2013 và hoàn thành thời gian chuyển đổi vào năm 2019. Những thay đổi căn bản trong phiên bản Basel III là tập trung tăng cường về vốn của ngân hàng, giới thiệu các yêu cầu mới quy định về tính thanh khoản và các đòn bẩy trong ngân hàng.
Giúp duy trì hệ thống ngân hàng ổn định, giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng từng bước hoàn thành chỉ tiêu, đáp ứng yêu cầu nghiêm ngặt và ủy ban Basel đã đặt ra. Mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh là những mục tiêu xác định trọng tâm của các doanh nghiệp, trong đó có các NH TMCP. Do đặc thù là ngành kinh doanh đặc biệt, hệ thống NH TMCP có tác động lớn đến mọi hoạt động kinh tế và vai trò cốt lõi trong hệ thống tài chính của quốc gia. Do đó, công tác giám sát rủi ro hoạt động ngân hàng ngày càng chặt chẽ là tất yếu và trở thành xu thế chung trên thế giới.
7 Theo Taherinia & Baqeri (2018), có định nghĩa như sau “Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ phần trăm tỷ lệ vốn chính của một tổ chức tài chính so với tài sản của nó và được sử dụng như một thước đo sức mạnh tài chính và sự ổn định của nó”. Ngoài ra, Taherinia & Baqeri (2018) còn cho rằng: “Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ sở hữu trong ngân hàng quyết định cấu trúc tài chính của nó và tỷ lệ này là phần bổ sung của tỷ lệ nợ”. CAR là tỷ lệ đo lường độ an toàn vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh giữa vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại.
Đo lường tỷ lệ này sẽ đánh giá được rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng. Ngân hàng trung ương ở các nước thường quy định tỷ lệ CAR tối thiểu để bảo vệ người cho vay và người gửi tiền, thông qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính. Ở Việt Nam, tỷ lệ này được NHNN quy định có mức tối thiểu là 9% theo Thông tư số 22/2019/TT-NHNN và có mức tối thiểu là 8% nếu các ngân hàng tính toán CAR theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN. Do vậy, CAR là thước đo về độ an toàn vốn của các ngân hàng dựa trên tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng.
Các nhà quản trị đã dùng tỷ lệ này để đánh giá khả năng thanh toán và mức độ rủi ro của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các ngân hàng tuân thủ quy định về CAR sẽ giúp cơ quan quản lý hệ thống tài chính ngân hàng có thể quản lý được sự ổn định của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Bên cạnh đó, việc đảm bảo CAR tối thiểu cũng giúp nhà quản trị ngân hàng có những chính sách phát triển bền vững và đảm bảo hoạt động hiệu quả ngân hàng đồng thời giúp cho khách hàng gửi tiền thấy yên tâm với các khoản tiền gửi của mình. Phương pháp đo lường CAR 2.
Theo Hiệp ước Basel ❖ CAR đo lường theo Basel I Để duy trì vốn ở ngưỡng quy định các ngân hàng phải điều chỉnh theo CAR ở mức 8% theo yêu cầu của Basel I. Vốn của ngân hàng chia thành 3 loại: Vốn cấp 1, 8 vốn cấp 2 và vốn cấp 3. Có 4 loại mức rủi ro khác nhau dựa trên tiêu chí phân loại tài sản là 0%, 20%, 50% và 100%. Do đó, Basel I được xem tương đối vì mức độ rủi ro của các tài sản chỉ căn cứ vào nhóm khách hàng và tài sản đảm bảo mà không dựa vào quy mô món vay, xếp hạng khách hàng và thời hạn vay vốn.
Basel I chưa tính đến rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường mà chỉ tính đến rủi ro tín dụng. ❖ CAR đo lường theo Basel II Từ những nhược điểm của Basel I, Basel II được xây dựng, sửa đổi với 3 nội dung chính, được xem là 3 trụ cột, CAR tối thiểu vẫn là 8% như Basel I. Tuy nhiên, rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. So với Basel I, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự thay đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ nhưng hoàn toàn là một phiên bản mới đối với rủi ro hoạt đông, trọng số rủi ro của Basel II từ 0% - 150%.
Các ngân hàng hoạt động an toàn hơn, lành mạnh hơn từ khi dùng Basel II do trình độ quản lý rủi ro được tăng cường và báo cáo xếp hạng nội bộ thường xuyên được áp dụng khi đánh giá về khách hàng. Trong hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng sẽ chú ý kiểm soát, đánh giá độ tín nhiệm của khách hàng. ❖ CAR đo lường theo Basel III Năm 2010, khuôn khổ Basel III ra đời để có thể cải thiện những tồn tại của Basel I và Basel II. Các NHTM có sức chống chọi với các rủi ro có thể xảy ra, hoạt động ổn định nhờ áp dụng chuẩn mực Basel III.
Basel III là chuẩn mực được áp dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế và đang được hệ thống NH Việt Nam hướng đến, theo yêu cầu của Basel III việc nâng cao chất lượng về vốn và thanh khoản sẽ giúp các NHTM có khả năng chống đỡ tốt hơn trước những căng thẳng thanh khoản; bên cạnh đó, chuẩn mực cũng tại nền tảng cho một hệ thống ngân hàng bền vững có sức chống lại những biến cố và phòng ngừa các tổn thất có thể xảy ra. Các mốc đo lường CAR theo Basel Mốc Thời gian ban bắt đầu áp Công thức tính CAR hành dụng 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 Basel I 1988 1992 CAR = 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 (𝑅𝑊𝐴) CAR = (𝑉ố𝑛 𝑡ự 𝑐ó) Basel II 2004 2006 ≥ (𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔+𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔+𝑅𝑊𝐴𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑡ℎị 𝑡𝑟ườ𝑛𝑔) 8% CAR = Basel 01. Theo quy định tại Việt Nam Thông tư 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, định nghĩa CAR tối thiểu là tỷ lệ phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, gồm CAR tối thiểu riêng lẻ và CAR tối thiểu hợp nhất. Ngân hàng Nhà nước (2019).
Thông tư 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 15/11/2019. CAR riêng lẻ: Theo tỷ lệ này thì các NH phải duy trì ở mức tối thiểu là 9% và được tính bằng công thức sau: 𝑉𝑇𝐶 𝑟𝑖ê𝑛𝑔 𝑙ẻ CAR riêng lẻ (%) = x 100% 𝑇𝑇𝑆 𝑐ó 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑟𝑖ê𝑛𝑔 𝑙ẻ Trong đó: VTC riêng lẻ quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 22/2019/TT-NHNN TTS có rủi ro riêng lẻ quy định tại Phụ lục 2 Thông tư 22/2019/TT- NHNN 10 CAR hợp nhất: Trường hợp NH có công ty con thì ngoài việc phải duy trì CAR riêng lẻ theo quy định trên vừa phải duy trì CAR hợp nhất ở mức 9%. 𝑉𝑇𝐶 ℎợ𝑝 𝑛ℎấ𝑡 CAR hợp nhất (%) = x 100% 𝑇𝑇𝑆 𝑐ó 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 ℎợ𝑝 𝑛ℎấ𝑡 VTC hợp nhất và TTS có rủi ro hợp nhất trong công thức trên được quy định tại Phụ lục 2 của Thông tư 22/2019/TT-NHNN. Đối với chi nhánh NHNN thì Thông tư 22/2019/TT-NHNN cũng được quy định phải duy trì CAR ở mức 9% và được tính theo công thức sau: 𝑉𝑇𝐶 CAR riêng lẻ (%) = x 100% 𝑇𝑇𝑆 𝑐ó 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 VTC và TTS có rủi ro trong công thức trên được quy định tại Phụ lục 3 của Thông tư 22/2019/TT-NHNN 2.
Ý nghĩa của CAR CAR được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và bảo đảm an toàn, ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính. Khi ngân hàng đảm bảo được tỷ lệ này có nghĩa là đã tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, tự bảo vệ mình và bảo vệ những người gửi tiền. CAR là chỉ tiêu mà duy trì nó ở mức phù hợp sẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Các tài sản có điều chỉnh rủi ro thể hiện việc sử dụng vốn để cho vay và độ rủi ro của các khoản cho vay đó.
Bên cạnh đó, vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời. CAR là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra.