BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. VŨ LÂM CÔNG TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC TÍNH THEO GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. VŨ LÂM CÔNG TỶ GIÁ THỰC HIỆU LỰC TÍNH THEO GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PSG. TRẦN THỊ THÙY LINH TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tác giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua, số liệu được sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Thơ và PGS.TS Trần Thị Thùy Linh. Tác giả luận văn VŨ LÂM CÔNG Mục lục Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng và hình Danh mục các từ viết tắt Tóm lược Giới thiệu. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu.1 Phương pháp nghiên cứu.1 Tỷ giá hối đoái.2 Giá trị gia tăng thương mại.3 Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng.4 Sự khác nhau giữa giá tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng và tỷ giá thực hiệu lực.2 Dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu thiếp theo.2 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.47 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 50 Phụ lục 1: Chỉ số VAREER và REER cho VN từ 1996 – 2009.50 Phụ lục 2: Chỉ số CPI và YDFL cho VN từ 1996 – 2009.51 Phụ lục 3: Chỉ số YDFL cho các nước từ 1996 – 2009.52 Phụ lục 4: Trọng số giá trị gia tăng và trọng số thương mại song phương cho VN từ 1996 - 2009.61 Phụ lục 5 Bảng trọng số song phương hàng năm của VN với các nước trên thế giới từ 1996 - 2009.62 DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH Hình 2.1: Thương mại thông thường Hình 2.2: Thương mại theo chiều dọc và giá trị gia tăng thương mại Bảng 3.1: Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng VN từ 1996 – 2009 Bảng 3.2: Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng, tỷ giá thực hiệu lực của VN từ 1996 – 2009. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT GPD: Tổng sản phẩm nội địa - Gross Domestic Product IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế ( International Monetary Fund) OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Co- operation and Development) REER: Tỷ giá thực song phương, Tỷ giá thực hiệu lực – Real effective exchange rates TQ: Trung Quốc YDFL: Chỉ số giảm phát GDP – GDP Deflator VAREER: Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng – Value – added real effective exchange rates VN: Việt Nam Tóm lược Bài nghiên cứu xây dựng một cách đo lường mới cho tỷ giá thực hiệu lực (REER), chỉ số tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng (VAREER). Chỉ số VAREER bổ sung cho chỉ số REER trong đo lường sức cạnh tranh của quốc gia khi hàng hóa không chỉ được sản xuất hoàn toàn tại một quốc gia mà được sản xuất từ nhiều quốc gia khác nhau. Chỉ số VAREER được tính toán dựa trên hai thành phần là trọng số giá trị gia tăng thương mại và chỉ số giảm phát GDP. Trong trường hợp VN, chỉ số VAREER trong giai đoạn 1996 – 2009 là 0,197, cao hơn trung bình 13% so với chỉ số REER. Từ khóa: Giá trị gia tăng thương mại, tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng, tỷ giá thực hiệu lực. 1 Giới thiệu Tỷ giá hối đoái luôn được xem là một trong những biến số kinh tế vĩ mô quan trọng của nền kinh tế. Tỷ giá hối đoái đo lường giá trị của một đồng tiền trên một đơn vị đồng tiền khác. Tỷ giá thể hiện giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa trên thị trường thế giới. Là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia. Tỷ giá thực hiệu lực (REER) là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo lạm phát trong nước và lạm phát nước ngoài, có tính đến trọng số thương mại giữa các quốc gia. REER là một chỉ số, được thiết kế để đo lường tác động của sự thay đổi giá lên cầu cho sản phẩm của mỗi quốc gia. Chỉ số REER được ứng dụng rộng rãi, và thường được sử dụng để đánh giá sức cạnh tranh hàng hóa xuất khẩu của quốc gia, trạng thái của cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, hay đo lường sự mất cân bằng của tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Mặc dù có ứng dụng rộng rãi, nhưng chỉ số REER hiện tại không còn phù hợp cho sự phân tích sức cạnh tranh của một quốc gia trong trường hợp mà hàng hóa xuất khẩu của quốc gia được tạo ra bởi hàng hóa sự kết hợp giữa hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu, hay đầu vào của hàng xuất khẩu là hàng nhập khẩu. Chỉ số REER dựa vào những nền tảng lý thuyết được cung cấp bởi Armington (1969). Trong hệ thống này, mỗi sản phẩm của quốc gia khác nhau cạnh tranh với các sản phẩm từ các quốc gia khác ở các thị trường bên ngoài. Công thức tính REER dựa trên định nghĩa tổng sản lượng sản xuất của mỗi quốc gia và quốc gia xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó sản xuất, nói rõ hơn là những sản phẩm mà quốc gia đó sản xuất thì hoàn toàn được sản xuất nội địa. Nhưng trong kinh tế toàn cầu hiện 2 nay, hàng hóa nhập khẩu được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, chứ không phải quốc gia đó sản xuất sản phẩm 100% từ nội địa. Đây chính là điểm làm cho chỉ số REER không còn phù hợp khi phân tích sức cạnh tranh nữa. Để làm rõ hơn, hãy xem xét ví dụ của việc sản xuất hàng may mặc của VN. Phương pháp Armington sẽ phân loại sản phẩm may mặc như là sản phẩm của VN, và cho rằng VN sẽ cạnh tranh với các nhà cung cấp sản phẩm may mặc ở thị trường nước ngoài. Theo định nghĩa này, giá của sản phẩm may mặc của VN tăng lên sẽ hàm ý rằng sức cạnh tranh của VN sẽ giảm xuống. Tuy nhiên, trong thực tế sản phẩm may mặc của VN có đầu vào được nhập khẩu lên đến 80% (Bộ công thương). Mặt khác, VN là điểm cuối trong dây chuyền sản xuất hàng may mặc chứ không phải sản phẩm may mặc được hoàn toàn sản xuất 100% tại VN. Theo đó, VN sẽ cạnh tranh với các nước quốc gia có thể là điểm gia công hàng may mặc như Pakistan, Indonesia, … chứ không phải cạnh tranh với các nhà cung cấp hàng may mặc trên thế giới. Do đó, phải chăng chúng ta nên định nghĩa lại sản phẩm xuất khẩu của VN như là một phân đoạn của giá trị gia tăng được sản xuất tại VN hơn là hoàn toàn được sản xuất tại VN? Với sự mở rộng của chuỗi sản xuất toàn cầu, mỗi quốc gia chuyên môn hóa trong giá trị gia tăng tại một điểm nào đó của quá trình sản xuất hơn là sản xuất hoàn hoàn sản phẩm. Mỗi quốc gia cạnh tranh thông qua sự cung cấp giá trị gia tăng đối với các thị trường bên ngoài, không phải là cạnh tranh các hàng hóa cuối cùng hoặc là tổng sản phẩm xuất khẩu. Do đó, chỉ số đo lường sức cạnh tranh REER không còn phù hợp nữa. Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ giới thiệu về giá trị gia tăng thương mại, là phần giá trị gia tăng của quốc gia trong sản phẩm xuất khẩu 3 và chỉ số “tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng – VAREER”. Chỉ số VAREER là chỉ số dựa trên giá trị gia tăng thương mại và sẽ khắc phục những hạn chế của chỉ số REER trong việc đo lường sức cạnh tranh. Đồng thời tính toán và so sánh chỉ số VAREER với chỉ số REER cho Việt Nam. Tổng quan về các nghiên cứu trước đây Qua tìm hiểu thì trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu có liên quan đến giá trị gia tăng thương mại và tỷ giá thực hiệu lực như sau: Các tài liệu tiếng Anh - Hummels-Ishii-Yi (2001) đưa ra khái niệm về chuyên môn hóa chiều dọc (vertical specialization – sản phẩm được sản xuất từ nhiều quốc gia khác nhau, và mỗi quốc gia chuyên môn hóa trong một bước cụ thể của quy trình sản xuất sản phẩm). Tập trung vào khái niệm hẹp hơn của chuyên môn hóa theo chiều dọc là hàng hóa được nhập khẩu để làm đầu vào cho sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Trong đó, quy trình sản xuất sản phẩm thì cần ít nhất hai quốc gia, và trong quá trình sản xuất sản phẩm thì các sản phẩm phải được chuyển giao giữa các quốc gia này. Tác giả nhấn mạnh rằng, trong quá trình chuyển giao “tới – lui” hàng hóa giữa các quốc gia làm cho đo lường thương mại quốc tế không còn phản ánh đúng nữa. Chẳng hạn, Nhật Bản xuất khẩu phôi thép sang Mexico, sau đó thép được gia công, ép, đóng dấu và xuất khẩu sang Mỹ. Thương mại quốc tế, theo đó sẽ ghi nhận xuất khẩu thép từ Mexico sang Mỹ (thực chất phần xuất khẩu của Mexico là rất thấp vì đã nhập phôi thép từ Nhật Bản), đồng thời ghi nhận thép xuất khẩu từ Nhật Bản sang Mexico. Dựa trên khái niệm về thương mại theo chiều dọc, các tác giả đã tính toán đo lường giá trị của đầu vào xuất khẩu hàm chứa trong giá trị hàng xuất khẩu. Với dữ liệu tính toán chủ yếu là bảng đầu vào – đầu ra (input – output) về đầu vào nhập khẩu, tổng sản phẩm đầu ra và xuất khẩu. Tác giả sử dụng dữ liệu đầu vào – đầu ra của OECD, của 14 quốc gia (10 nước OECD, Ireland, Korea, Taiwan và Mexico). Kết quả, tỷ lệ sản phẩm đầu vào nhập khẩu 5 trong hàng hóa xuất khẩu năm 1990 trung bình là 0,21, tăng 30% so với năm 1970 là 0,165. - Belke và Wang (2005), lý luận về độ mở thương mại giữa các quốc gia trong cùng một khu vực, từ đó đề xuất sử dụng về giá trị gia tăng thương mại thay cho tổng giá trị thương mại trong đo lường thương mại quốc tế.
Luận văn thạc sĩ về tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng tại Việt Nam của Vũ Lâm Công ...
Luận văn thạc sĩ phân tích Tỷ giá thực hiệu lực tính theo giá trị gia tăng tại việt nam luận văn thạc sĩ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực
Trường đại học
Trường Đại Học Kinh TếChuyên ngành
Tài Chính – Ngân HàngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận Văn Thạc SỹPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Tác giả: Vũ Lâm Công
Người hướng dẫn: PGS. Trần Thị Thùy Linh
Trường học: Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Đề tài: Tỷ Giá Thực Hiệu Lực Tính Theo Giá Trị Gia Tăng Tại Việt Nam
Loại tài liệu: Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản: 2013
Địa điểm: TP. Hồ Chí Minh
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ