CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC Y TẾ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của tuyển dụng viên chức y tế 1. Khái niệm tuyển dụng viên chức y tế 1. Khái niệm viên chức y tế - Khái niệm viên chức: Trong cuộc sống, bên cạnh những nhu cầu vật chất đảm bảo sự tồn tại và phát triển, con người còn có những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thông tin.
Xã hội dần hình thành bộ phận lao động đảm nhiệm những công việc như vậy. Ban đầu, những công việc này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với số lao động còn lại. Sự phát triển của xã hội và chuyên môn hóa lao động ngày càng cao khiến cho lực lượng lao động này càng tăng cao và mang tính chuyên nghiệp. Từng giai đoạn mà đội ngũ này có các tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút trong cách quản lý, sử dụng và hoạt động cung cấp dịch vụ.
Khái niệm viên chức được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật thay đổi theo từng thời kỳ, tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nước về đội ngũ này. Tại Pháp lệnh Cán bộ, Công chức ban hành năm 1998, cụm từ được sử dụng là “cán bộ, công chức”. Khi Pháp lệnh được sửa đổi bổ sung năm 2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công chức. Điểm d Điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.” Sau này, hai đối tượng công chức, viên chức được phân biệt một cách rõ ràng hơn tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Luật Viên chức năm 2010.
8 Luan van Căn cứ theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 quy định viên chức như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.“ Từ những quy định trong văn bản pháp luật trên, ta có thể hiểu khái niệm về viên chức thông qua một số nội dung cụ thể sau đây: + Viên chức là những công dân Việt Nam qua quá trình tuyển dụng theo một quy trình nhất định để vào làm tại các vị trí công việc cụ thể như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin,. tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia công tác quản lý nhà nước. Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân những sản phẩm “phi hiện vật”, dựa trên “kỹ năng nghiệp vụ” mang tính chất nghề nghiệp cao. Với tính chất như vậy nên hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác.
+ Viên chức phải được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ khoongh bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng viên chức đó là: Thi tuyển và xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010). + Địa điểm công tác là làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc sự quản lý của Nhà nước.
+ Thời gian làm việc: được tính từ khi tuyển dụng. Hợp đồng làm việc có hiệu lực đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động và Luật bảo hiểm xã hội. 9 Luan van + Chế độ hợp đồng làm việc của viên chức: Viên chwusc làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc và được trả lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Điều đó có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng, sử dụng viên chức có thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lý để sau này có tranh chấp vi phạm quyền hoặc các vấn đề liên quan để xử lý. + Mã ngạch viên chức là mã số phân chia viên chức làm căn cứ xây dựng, quản lý đội ngũ viên chức theo từng nghề nghiệp, chuyên môn và cấp bậc phù hợp; các chuyên ngành viên chức có thể kể đến như giáo dục, y tế, giải trí… các nhân viên trong cơ quan nhà nước khác. - Khái niệm viên chức y tế: Trong giai đoạn hiện nay, bất cứ cơ quan, đơn vị nào muốn tồn tại và phát triển đều phải xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn, năng lực, tay nghề, tiếp thu được những tinh hoa, công nghệ trên thế giới. Đặc biệt hơn, khi Việt Nam gia nhập WTO thì điều này còn trở nên cần thiết hơn bao giờ hết, vì đội ngũ lao động là nhân tố quyết định nền kinh tế phát triển hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Để thực hiện sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân ngành y tế cần phải có đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn, năng lực, có tâm, có tài. Đó chính là những viên chức làm việc tại các cơ sở y tế (bao gồm cả quân y, công lập, tư nhân, các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu khoa học lĩnh vực y/dược, cung ứng dịch vụ sức khỏe) trong toàn quốc, nói cách khác còn gọi là nhân lực y tế. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Nhân lực y tế bao gồm nhân lực biên chế và nhân lực hợp đồng đang làm việc trong hệ thống cơ sở y tế công lập, cơ sở đào tạo, hệ 10 Luan van thống nghiên cứu khoa học về y/dược và tất cả những người tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Theo đó nhân lực y tế bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật y, hộ sinh, y tế công cộng, công tác xã hội về sức khỏe và các đối tượng gián tiếp hỗ trợ dịch vụ chăm sóc sức khỏe, họ không tham gia trực tiếp đối với người bệnh nhưng có tầm quan trọng trong hầu hết các chức năng của hệ thống y tế. Nhân lực y tế là nền tảng để xây dựng khái niệm viên chức y tế. Nhân lực y tế được tiếp cận theo nghĩa rộng thì viên chức y tế được hiểu theo nghĩa hẹp. Bám sát khái niệm viên chức thì ta có khái niệm viên chức y tế là “Viên chức y tế là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các cơ sở y tế công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của các cơ sở y tế công lập theo quy định của pháp luật”.
Viên chức y tế bao gồm viên chức làm công tác lãnh đạo, quản lý, đội ngũ trực tiếp làm công tác chuyên môn chăm sóc người bệnh (bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dược), đội ngũ gián tiếp làm công tác nghiệp vụ (công tác xã hội, quản lý chất lượng, kỹ sư, hành chính, kế hoạch tổng hợp). Viên chức quản lý được bổ nhiệm có thời hạn làm công tác điều hành, quản lý một số nhiệm vụ tại cơ sở y tế công lập những không được gọi là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý. Viên chức y tế được gắn liền các chức danh nghề nghiệp. Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ chuyên môn, năng lực, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực như bác sĩ, bác sĩ dự phòng, y sĩ được quy định tại Thông tư số 10/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 27/5/2015 của Liên Bộ Y tế và Bội Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ.
Bên cạnh đó còn có các Thông tư quy định các chức danh nghề nghiệp khác như Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 của Liên Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức 11 Luan van danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y hay Thông tư số 27/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 của Liên Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược. Khái niệm tuyển dụng viên chức y tế Hiểu một cách đơn giản tuyển dụng là quy trình sàng lọc và tuyển chọn những người có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng một công việc trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị. Tại một số công ty, lãnh đạo hoặc phòng nhân sự thường tham gia vào quá trình tuyển dụng để lựa chọn người làm việc trực tiếp cùng với mình. Tuyển dụng phải dựa trên nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên.
Như vậy mới đúng là “tuyển”. Trong phần lớn các lĩnh vực, số lượng ứng viên sẽ nhiều hơn số lượng vị trí việc làm được tạo ra, nên khi có nhiều ứng viên tham gia tuyển dụng cho một vị trí có hạn sẽ khiến người tuyển dụng có nhiều lựa chọn hơn, nếu thực sự tuyển dụng công bằng, minh bạch, khách quan thì người tuyển dụng sẽ lựa chọn được người có trình độ chuyên môn cao nhất xứng với mục tiêu đặt ra của người sử dụng lao động. Theo Khoản 4, Điều 3 Luật Viên chức năm 2010 thì tuyển dụng là “việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độvà năng lực làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập”. Như vậy, việc tuyển dụng cần đạt các yêu cầu là có tư cách đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực làm việc.
Tuyển dụng viên chức là viên chức phải được được tuyển dụng theo vị trí việc làm. Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm. Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau:“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”. Tuyển dụng viên chức khác so với tuyển dụng công chức.
Công chức mang tính chất công quyền, hoạt động thực thi công vụ.