Tổng quan luận án
Cây mía (Saccharum officinarum L.) giữ vai trò là cây nguyên liệu chủ lực cho ngành công nghiệp sản xuất đường tại Việt Nam. Vùng Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ là hai địa bàn canh tác mía trọng điểm, trong đó tỉnh Tây Ninh có khoảng 15.600 ha mía cung cấp nguyên liệu cho ba nhà máy đường Thành Thành Công Tây Ninh, Biên Hòa và Nước Trong (với tổng công suất chế biến 15.500 tấn mía/ngày), còn tỉnh Khánh Hòa có diện tích đất trồng mía khoảng 23.180 ha. Tuy nhiên, diện tích mía những năm gần đây suy giảm do tác động bất lợi của biến đổi khí hậu gây hạn hán kéo dài, thiếu nước tưới. Tại Khánh Hòa, điều kiện đất đai kém màu mỡ kết hợp khô hạn khiến năng suất và chất lượng mía thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Phần lớn các giống mía đang đưa vào sản xuất thương mại tại Việt Nam là giống nhập nội từ Thái Lan và Trung Quốc (như K95-84, Suphanburi 7, KK3, LK92-11), được nhập khẩu chủ yếu dựa trên năng suất công bố tại nước bản địa mà chưa qua đánh giá thích nghi bài bản với từng tiểu vùng sinh thái.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là sự thiếu hụt các giống mía vừa đạt năng suất sinh khối và chữ đường cao trong điều kiện thâm canh bình thường, vừa có khả năng duy trì sinh trưởng, chống chịu tốt trước tình trạng khô hạn tại hai vùng sinh thái đặc thù là Tây Ninh và Khánh Hòa; đồng thời giải quyết yêu cầu kết hợp giữa khảo nghiệm nông học ngoài đồng ruộng với phân tích chỉ thị phân tử và biểu hiện gen chức năng liên quan đến tính chịu hạn.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là tuyển chọn được giống mía nhập nội có năng suất, chất lượng cao và chống chịu hạn, phù hợp với điều kiện canh tác tại hai tỉnh Tây Ninh và Khánh Hòa.
Các mục tiêu cụ thể được xác định bao gồm:
- Đánh giá đặc điểm nông học, di truyền của tập đoàn 32 giống mía nhập nội làm cơ sở chọn ra các giống mía triển vọng để nghiên cứu phục vụ sản xuất;
- Tuyển chọn các giống mía có năng suất cao hơn đối chứng 10-15%, chữ đường (CCS) ≥ 10%; ít trổ cờ, ít đổ ngã, kháng sâu, bệnh cho hai vùng canh tác là hai tỉnh Tây Ninh và Khánh Hòa;
- Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống mía triển vọng dựa trên sự biểu hiện gen P5CS trong điều kiện khô hạn.
Đối tượng nghiên cứu là các đặc điểm nông học, năng suất, chất lượng và khả năng chịu hạn của tập đoàn 32 giống mía nhập nội tại tỉnh Tây Ninh và tỉnh Khánh Hòa. Phạm vi không gian của đề tài diễn ra tại Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Mía đường Thành Thành Công (xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh), vùng khảo nghiệm tại huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) và phòng thí nghiệm tại Viện Nghiên cứu Công nghệ Sinh học và Môi trường (Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh). Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2021.
Giới hạn đề tài được xác định: Trong giai đoạn sơ tuyển tập đoàn 32 giống nhập nội, nghiên cứu chỉ tập trung theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất mà không theo dõi đầy đủ các chỉ tiêu chất lượng và chỉ tiêu bảo vệ thực vật một cách hệ thống; việc đánh giá khả năng chống chịu hạn của 5 giống mía triển vọng dựa trên mức độ biểu hiện gen P5CS trong điều kiện khô hạn mà không theo dõi các chỉ tiêu sinh lý và hình thái chuyên sâu trong cùng thí nghiệm đó.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu chỉ ra rằng các giống mía thương phẩm hiện đại đều là dạng con lai phức tạp giữa loài tích lũy đường cao Saccharum officinarum (2n = 80) và loài dại chống chịu bất lợi Saccharum spontaneum (2n = 40 đến 128), trong đó bộ gen chứa khoảng 80% nhiễm sắc thể từ S. officinarum, 10% từ S. spontaneum và 10% nhiễm sắc thể tái tổ hợp (D'Hont và ctv, 1996; Piperidis và ctv, 2010; Vieira và ctv, 2018). Trên phạm vi quốc tế, công tác chọn tạo giống mía được đẩy mạnh tại các quốc gia sản xuất lớn:
- Tại Brazil, chương trình giống RB đã phóng thích 94 giống trong giai đoạn 1970 - 2015, đóng góp 68% cơ cấu sản xuất niên vụ 2015/2016 (Gazaffi và ctv, 2016; Rossetto, 2015).
- Tại Ấn Độ, Viện Nghiên cứu Mía đường lai tạo các bộ giống Co, PI; xác định các giống chín sớm như CoS8436, CoS08272, CoSe8231, Co0238 và Co0118 có hàm lượng đường vượt trội (Rajeswari và ctv, 2016; Singh và ctv, 2016a).
- Tại Thái Lan, Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Suphan Buri phóng thích 17 giống, đưa các giống KK3, LK92-11, K88-92, K95-84, K99-72 và U-thong 12 trở thành giống chủ lực (Machado, 2015; Sukyai và ctv, 2016).
- Tại Indonesia, hơn 98% giống mía sản xuất được tạo ra trong nước; năm 2013 đã phóng thích 3 giống chuyển gen chịu hạn gồm NXI-1T, NXI-4T và NXI-6T (Machado, 2015).
- Tại Đài Loan, bộ giống ROC (như ROC1, ROC9, ROC15, ROC16) đã thay thế bộ giống F cũ và thích nghi với điều kiện khô hạn (Taiwan Sugarcane Research Institute, 2001).
- Tại Cuba, các bộ giống được phân nhóm chi tiết theo khả năng giữ đường, chịu đất xấu, chịu mặn và kháng bệnh than (Ustilago scitaminea), bệnh thối đỏ (Glomerella tucumanensis) (Ismael và Ayala, 2003).
Tại Việt Nam, từ năm 1990 đến năm 2019, có 68 giống mía được công nhận sản xuất thử nhưng chỉ có 16 giống (chiếm 23,5%) được công nhận chính thức (Lê Quang Tuyền, 2019). Các giống phổ biến gồm có My5514, F156, VN84-4137, ROC1, ROC10, VĐ63-237, ROC16, VĐ79-177, VN84-422, VN85-1427, ROC 23, ROC 26, K95-156, Suphanburi 7, LK92-11 và KK3 (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2016). Các công trình khảo nghiệm vùng miền của Đoàn Lệ Thủy (2007, 2012), Cao Anh Đương (2012, 2013a, 2017), Nguyễn Đức Quang và ctv (2011, 2016, 2017), Lê Thị Thường và ctv (2006, 2008), Nguyễn Văn Dự (2008, 2016) cho thấy mỗi vùng sinh thái đòi hỏi bộ giống thích ứng riêng biệt: giống Suphanburi 7, K95-156 thích hợp Nam Trung Bộ; VN84-422, VN85-1427 thích hợp Tây Nguyên; K88-92, K95-84, KK3 thích hợp đất thấp và đất có tưới tại Đông Nam Bộ; KK3, LK92-11 thích hợp Tây Nam Bộ.
Về nghiên cứu chỉ thị phân tử và cơ chế chịu hạn, Nguyễn Văn Trữ và ctv (2012) dùng 20 cặp mồi SSR trên 42 giống mía Việt Nam thu được 85 alen, xác định mồi M12 có tính đa hình cao gắn với hàm lượng đường; Thân Thị Thu Hạnh và ctv (2019) sử dụng 45 chỉ thị SSR trên 30 giống mía ghi nhận hệ số tương đồng từ 0,52 đến 0,90. Về mặt sinh hóa và phân tử, hạn hán làm giảm tỷ lệ quang hợp, độ dẫn khí khổng và diện tích lá (Inman-Bamber và Smith, 2005; Basnayake và ctv, 2015; Bui The Khuynh và ctv, 2019). Sự tích lũy proline thông qua hoạt động của enzyme Δ1-pyrroline-5-carboxylate synthetase (P5CS) đóng vai trò điều hòa thẩm thấu và giảm thiểu stress oxy hóa tế bào (Han và Hwang, 2003; Wahid và ctv, 2007; Balestro và ctv, 2017; Silva, 2019).
Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống trong việc tuyển chọn có hệ thống tập đoàn giống mía nhập nội mới tại hai địa bàn có tính chất sinh thái đối lập (Đông Nam Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ), kết hợp giữa đánh giá chỉ tiêu nông học theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia (QCVN 01-131:2013/BNN & PTNT) với kỹ thuật chỉ thị phân tử SSR và kiểm tra sự biểu hiện của gen P5CS chịu hạn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết chọn giống cây trồng hiện đại kết hợp phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học phân tử (Marker-Assisted Selection - MAS). Cơ chế chịu hạn được soi chiếu qua con đường sinh tổng hợp proline từ glutamate xúc tác bởi enzyme P5CS và P5CR. Sự gia tăng biểu hiện của gen P5CS dưới điều kiện stress mất nước được dùng làm chỉ thị phân tử mức độ phiên mã để đánh giá khả năng phản ứng chống chịu khô hạn.
Phương pháp nghiên cứu gồm ba nội dung thực nghiệm cụ thể:
| Nội dung nghiên cứu |
Thiết kế thí nghiệm |
Vật liệu và nghiệm thức |
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu |
| Nội dung 1: Sơ tuyển và đánh giá đa dạng di truyền |
- Thí nghiệm sơ tuyển ngoài đồng: bố trí tuần tự, không lặp lại. - Thí nghiệm phòng thí nghiệm: phân tích chỉ thị phân tử SSR. |
- 32 giống mía nhập nội. - 2 giống đối chứng: KK3 và K94-2-483. - 14 cặp mồi SSR (như M22, M58...). |
- Đo đạc tỷ lệ mọc mầm, đẻ nhánh, chiều cao, đường kính thân, mật độ cây, sâu bệnh, đổ ngã, chữ đường (CCS), năng suất mía và năng suất đường. - Ly trích DNA tổng số bằng phương pháp CTAB. - Điện di gel agarose 2% (100 V, 400 mA trong 30 phút). - Tính hệ số PIC, lập ma trận tương đồng di truyền, xây dựng dendrogram bằng UPGMA trên phần mềm NTSYSpc 2.1. |
| Nội dung 2: Khảo nghiệm cơ bản tại 2 vùng sinh thái |
- Thí nghiệm một yếu tố theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD), thực hiện qua 2 vụ (mía tơ và mía gốc I). |
- 10 giống khảo nghiệm: 8 giống tiềm năng chọn từ sơ tuyển (FG05-623, FG05-088, FG07-320, FG05-300, FG05-256, VMC96-161, MPT97-004, ECU01) kết hợp giống đối chứng K95-84 và các giống đối chiếu CoSi8 (Ấn Độ), SUP7 (Thái Lan), U1/U4 (Úc). |
- Bố trí song song tại Tây Ninh (huyện Châu Thành) và Khánh Hòa (huyện Ninh Hòa). - Theo dõi: tỷ lệ mọc mầm, tái sinh, đẻ nhánh, mật độ cây hữu hiệu, chiều cao, tốc độ vươn lóng, tỷ lệ sâu đục thân (Phragmataecia castaneae), bệnh trắng lá (Phytoplasma), trổ cờ, chống đổ ngã, các yếu tố cấu thành năng suất, CCS và năng suất đường. - Xử lý thống kê bằng ANOVA. |
| Nội dung 3: Nghiên cứu đặc tính chống chịu khô hạn |
- Thí nghiệm trong chậu gồm 6 nghiệm thức. - Các mức xử lý: ngừng tưới 2 tuần, ngừng tưới 6 tuần và đối chứng tưới nước bình thường. |
- 5 giống mía triển vọng: FG05-088, FG05-256, FG05-623, FG07-320, VMC96-161. - 1 giống đối chứng: KK3. |
- Quan sát bề mặt lá, cấu trúc lớp sáp và mật độ khí khổng. - Ly trích mRNA tổng số từ mẫu lá sau thời gian xử lý hạn. - Khuếch đại đoạn gen mục tiêu P5CS kích thước 252 bp bằng kỹ thuật PCR. - Tạo dòng gen P5CS vào vector pGEM-T Easy, biến nạp vào vi khuẩn trên môi trường LB có Ampicillin, X-gal, IPTG. - Định lượng mức độ biểu hiện gen bằng real-time PCR dựa trên đường chuẩn các mẫu plasmid DNA pha loãng (10⁻³ đến 10⁻⁸). - Giải trình tự sản phẩm PCR để kiểm tra trình tự gen Act và P5CS. |
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần Mở đầu thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực trạng suy giảm diện tích mía tại Tây Ninh và Khánh Hòa do hạn hán, năng suất đường chưa cao và cơ cấu giống phụ thuộc vào giống ngoại nhập chưa qua sàng lọc thích ứng. Tác giả xác định mục tiêu tổng quát, 3 mục tiêu cụ thể, 3 nội dung nghiên cứu, đối tượng, phạm vi thời gian (2016-2021) và không gian tại hai tỉnh, nêu rõ giới hạn nghiên cứu cũng như ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình.
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 cung cấp tổng quan toàn diện về cây mía trên các khía cạnh: nguồn gốc lai khác loài giữa S. officinarum và S. spontaneum; đặc điểm hình thái thân, lóng, mắt mầm, bẹ lá, lớp sáp và bộ rễ; yêu cầu sinh thái về nhiệt độ (25-26°C), ánh sáng C4 (tối thiểu 1200 giờ/năm), lượng nước (tổng lượng mưa yêu cầu 2000-2500 mm/năm, độ ẩm đất 60-80%). Chương này phân tích chi tiết thực trạng ngành mía đường Việt Nam theo thống kê FAOSTAT (diện tích đứng thứ 17, năng suất đứng thứ 45 thế giới) và Tổng cục Thống kê (năng suất cả nước năm 2020 giảm còn 62,20 tấn/ha, sản lượng đạt 11,535 triệu tấn).
Tác giả hệ thống hóa các tiêu chuẩn chọn giống tại Brazil và Việt Nam; điểm lại các phương pháp tạo giống (tuyển chọn nguồn sẵn có, chọn giống nhờ chỉ thị phân tử MAS, gây đột biến phóng xạ Cobalt-60 hoặc tia gamma, chuyển gen thông qua vi đạn và công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR-Cas9). Tổng quan nghiên cứu trên thế giới bao quát kết quả từ Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Indonesia, Đài Loan, Cuba. Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp 16 giống mía công nhận chính thức (1990-2019) và kết quả tuyển chọn phân theo 5 vùng sinh thái: Bắc Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ; quỹ gen 917 mẫu lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Mía đường (SRI); ứng dụng chỉ thị SSR phân tích đa dạng di truyền mía của các tác giả trong nước. Phần cuối chương phân tích chi tiết nhu cầu nước, các tổn thương do hạn hán ở giai đoạn đẻ nhánh và vươn lóng, phản ứng sinh lý (đóng khí khổng, suy giảm quang hợp, Fv/Fm, SPAD) và cơ chế phân tử của con đường sinh tổng hợp proline qua gen P5CS.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện khí tượng, thổ nhưỡng tại huyện Châu Thành (Tây Ninh) và huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa). Tác giả trình bày danh mục 32 giống mía nhập nội, 2 giống đối chứng và các giống đối chứng sản xuất; danh mục hóa chất, các cặp mồi SSR, hóa chất PCR, vector tách dòng pGEM-T Easy và hệ thống máy giải trình tự DNA. Chương này quy định chi tiết quy trình bố trí của 6 thí nghiệm, từ bố trí sơ tuyển tuần tự không lặp lại đến bố trí khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) cho khảo nghiệm cơ bản 10 giống mía qua hai vụ (mía tơ và mía gốc I), cùng quy trình gây hạn trong chậu, ly trích mRNA, PCR bán định lượng và định lượng real-time PCR theo đường chuẩn.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm tương ứng với ba nội dung chính:
- Kết quả sơ tuyển và đánh giá đa dạng di truyền 32 giống mía nhập nội:
- Qua sơ tuyển tại Tây Ninh, tác giả ghi nhận biến động lớn về tỷ lệ mọc mầm, đẻ nhánh, chiều cao thân, mức độ sâu đục thân và trổ cờ giữa 32 giống. Năng suất đường của các giống biến thiên rộng từ 11,5 tấn/ha đến 16,3 tấn/ha.
- Phân tích tương quan chỉ ra rằng năng suất đường tương quan thuận rất chặt với năng suất mía hơn là với chữ đường (CCS); trong khi đó, năng suất mía đạt tương quan cao nhất với mật độ cây hữu hiệu.
- Phân tích di truyền bằng 14 cặp mồi SSR cho thấy hệ số tương đồng di truyền giữa 32 giống dao động trong khoảng từ 35% đến 85% (theo tóm tắt tiếng Anh là 35% đến 89%). Giá trị hàm lượng thông tin đa hình (PIC) trung bình đạt 0,37. Ở mức tương đồng di truyền 63%, 32 giống mía được phân thành 5 nhóm di truyền độc lập. Tác giả đã tuyển chọn được 8 giống mía tiềm năng thuộc các nhóm di truyền I, III và V gồm: FG05-623, FG05-088, FG07-320, FG05-300, FG05-256, VMC96-161, MPT97-004 và ECU01.
- Kết quả khảo nghiệm cơ bản 10 giống mía tiềm năng tại Tây Ninh và Khánh Hòa:
- Tại tỉnh Tây Ninh: Các giống ECU01, FG05-088, FG05-623 và MPT97-004 đạt năng suất đường tương đương hoặc vượt trội so với giống đối chứng K95-84 ở cả hai vụ khảo nghiệm. Trong đó, giống FG05-623 biểu hiện ưu thế cao nhất ở cả vụ mía tơ (năng suất mía đạt 119,6 tấn/ha; năng suất đường đạt 12,8 tấn/ha) và vụ mía gốc I (năng suất mía đạt 82,7 tấn/ha; năng suất đường đạt 7,3 tấn/ha).
- Tại tỉnh Khánh Hòa: Giống FG05-256 thể hiện tính thích ứng vượt trội trong điều kiện khô hạn và đất đai kém dinh dưỡng. Năng suất mía trung bình hai vụ (mía tơ và gốc I) của FG05-256 đạt 114,0 tấn/ha và năng suất đường đạt 12,4 tấn/ha, vượt giống đối chứng K95-84; đồng thời giống này thể hiện khả năng kháng sâu đục thân (Phragmataecia castaneae Hubner) khá tốt, tỷ lệ trổ cờ thấp và chống đổ ngã tốt.
Bảng tổng hợp kết quả khảo nghiệm của hai giống nổi trội tại hai vùng sinh thái:
| Tỉnh khảo nghiệm |
Giống mía |
Vụ khảo nghiệm |
Năng suất mía (tấn/ha) |
Năng suất đường (tấn/ha) |
Đặc tính nông học và chống chịu |
| Tây Ninh |
FG05-623 |
Mía tơ |
119,6 |
12,8 |
Năng suất mía và đường cao nhất vụ tơ; sinh trưởng nhanh, đẻ nhánh khỏe. |
|
|
Mía gốc I |
82,7 |
7,3 |
Tái sinh gốc tốt, duy trì năng suất vượt trội so với đối chứng K95-84. |
| Khánh Hòa |
FG05-256 |
Trung bình 2 vụ (Tơ + Gốc I) |
114,0 |
12,4 |
Vượt đối chứng K95-84; chống chịu sâu đục thân tốt; thích nghi điều kiện khô hạn. |
- Kết quả nghiên cứu đặc tính chịu hạn và biểu hiện gen P5CS của 5 giống mía triển vọng:
- Khảo sát bề mặt lá và khí khổng ở 5 giống (FG05-088, FG05-256, FG05-623, FG07-320, VMC96-161) và đối chứng KK3 cho thấy sự khác biệt về mật độ khí khổng và lớp cutin/sáp.
- Phản ứng PCR khuếch đại thành công đoạn gen mục tiêu P5CS kích thước 252 bp, sản phẩm nối dòng vào vector pGEM-T Easy và kiểm tra khuẩn lạc trắng trên môi trường chọn lọc. Đường chuẩn định lượng được thiết lập từ các độ pha loãng 10⁻³ đến 10⁻⁸ của plasmid DNA.
- Kết quả phân tích mức độ biểu hiện gen cho thấy: sau 2 tuần xử lý khô hạn (ngừng tưới), mức độ biểu hiện của gen P5CS gia tăng rõ rệt ở các giống FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và giống đối chứng KK3 so với nghiệm thức đối chứng được tưới nước đầy đủ. Điều này xác nhận phản ứng tăng cường tổng hợp enzyme P5CS để kích hoạt con đường tích lũy proline bảo vệ tế bào dưới stress hạn hán ở các giống này.
Kết luận và đề nghị
Luận án tóm tắt các kết quả đạt được về mặt sơ tuyển, phân tích đa dạng di truyền, khảo nghiệm nông học 2 vụ và biểu hiện gen chịu hạn. Tác giả kiến nghị đưa hai giống FG05-623 và FG05-256 vào cơ cấu sản xuất thử diện rộng tại Tây Ninh và Khánh Hòa, đồng thời đề nghị tiếp tục khai thác các giống có nguồn gen chịu hạn và giàu đường làm vật liệu bố mẹ cho các chương trình lai tạo giống mía tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã công bố những đóng góp mới cụ thể về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất:
- Về mặt khoa học và lý luận:
- Thiết lập cơ sở dữ liệu về mức độ tương đồng di truyền của 32 giống mía nhập nội dựa trên 14 chỉ thị phân tử SSR, với hệ số tương đồng dao động từ 35% đến 85% và giá trị PIC trung bình là 0,37; xác định mức độ tương đồng di truyền 63% là ngưỡng phân tách thành 5 nhóm di truyền rõ rệt.
- Xác định mối quan hệ tương quan trong chọn giống mía tại vùng nghiên cứu: năng suất đường có tương quan chặt chẽ với năng suất mía hơn so với chữ đường (CCS); trong khi đó, năng suất mía đạt tương quan cao nhất với mật độ cây hữu hiệu.
- Ứng dụng thành công kỹ thuật sinh học phân tử để đánh giá sự biểu hiện của gen P5CS liên quan đến tính chịu hạn ở cây mía. Chứng minh được sự gia tăng biểu hiện của gen P5CS sau 2 tuần chịu hạn ở các giống FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và KK3, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về phản ứng phân tử liên quan đến cơ chế chống chịu khô hạn ở cây mía.
- Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Tuyển chọn thành công hai giống mía nhập nội có ưu thế nổi trội phù hợp cho từng vùng sinh thái:
- Giống FG05-623 được đề xuất phát triển tại tỉnh Tây Ninh nhờ năng suất mía và năng suất đường dẫn đầu ở cả vụ mía tơ (119,6 tấn mía/ha; 12,8 tấn đường/ha) và vụ mía gốc I (82,7 tấn mía/ha; 7,3 tấn đường/ha).
- Giống FG05-256 được đề xuất cho tỉnh Khánh Hòa nhờ khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện khô hạn, kháng sâu đục thân (Phragmataecia castaneae) khá tốt, đạt năng suất trung bình 2 vụ là 114,0 tấn mía/ha và 12,4 tấn đường/ha, vượt trội so với giống đối chứng K95-84.
- Cung cấp tập đoàn nguồn gen nhập nội đã được định danh về đặc tính nông học và quan hệ di truyền, tạo nguồn vật liệu khởi đầu cho các chương trình lai tạo và chọn lọc giống mía của ngành nông nghiệp Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo công bố của tác giả trong phần giới hạn đề tài, công trình có một số hạn chế:
- Trong thí nghiệm sơ tuyển tập đoàn 32 giống mía nhập nội, nghiên cứu chỉ thu thập và theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất mà chưa thực hiện đánh giá đầy đủ, có hệ thống các chỉ tiêu về phẩm chất công nghệ chi tiết và các chỉ tiêu sâu bệnh hại bảo vệ thực vật.
- Việc đánh giá tính chống chịu hạn ở 5 giống mía triển vọng mới chỉ tiếp cận ở mức độ biểu hiện gen phiên mã P5CS trong điều kiện khô hạn nhân tạo trong chậu, chưa đồng thời theo dõi các biến đổi về đặc điểm hình thái và các chỉ tiêu sinh lý chi tiết (như biến thiên thế nước, hàm lượng proline tự do tuyệt đối hay độ dẫn khí khổng ngoài đồng ruộng) trong cùng bố trí thí nghiệm này.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi ý từ nội dung luận án là: Tiếp tục khảo nghiệm diện rộng hai giống FG05-623 và FG05-256 tại các vùng đất chuyên biệt của Tây Ninh và Khánh Hòa; phân tích chi tiết động thái tích lũy đường trong suốt chu kỳ thu hoạch; và ứng dụng bộ chỉ thị phân tử SSR cùng các dòng mang gen P5CS biểu hiện mạnh vào các chương trình lai tạo chọn giống chịu hạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng chuyên môn:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Cây trồng, Di truyền và Chọn giống: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận kết hợp giữa khảo nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn quốc gia (QCVN 01-131:2013/BNN & PTNT) với kỹ thuật phân tích chỉ thị phân tử SSR và quy trình định lượng mức độ biểu hiện gen bằng real-time PCR dựa trên plasmid đường chuẩn.
- Giảng viên và cán bộ nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu mía đường: Có thể khai thác dữ liệu về 14 cặp mồi SSR, ma trận hệ số tương đồng di truyền của 32 giống mía nhập nội và trình tự khuếch đại gen P5CS kích thước 252 bp.
- Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, nhà quản lý và doanh nghiệp mía đường tại Tây Ninh và Khánh Hòa: Có thể ứng dụng trực tiếp các số liệu khảo nghiệm thực tế về năng suất sinh khối, chữ đường và khả năng lưu gốc của hai giống FG05-623 và FG05-256 để xây dựng cơ cấu giống vùng nguyên liệu nhằm ứng phó với điều kiện khô hạn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đặt ra các tiêu chí định lượng cụ thể nào để tuyển chọn các giống mía tiềm năng?
Theo yêu cầu đề tài, các giống mía được chọn phải đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn: năng suất mía nguyên liệu cao hơn giống đối chứng ít nhất 10% đến 15%; chữ đường (CCS) đạt từ 10% trở lên; ít trổ cờ, ít đổ ngã, tái sinh gốc tốt và có khả năng kháng các loài sâu, bệnh hại chính.
2. Kết quả phân tích đa dạng di truyền bằng 14 chỉ thị SSR cho thấy điều gì về tập đoàn 32 giống mía nhập nội?
Kết quả phân tích ghi nhận hệ số tương đồng di truyền giữa 32 giống mía dao động từ 35% đến 85% (theo tóm tắt tiếng Anh là 35% đến 89%), với giá trị hàm lượng thông tin đa hình (PIC) trung bình đạt 0,37. Ở mức tương đồng di truyền 63%, tập đoàn 32 giống mía được phân chia thành 5 nhóm di truyền riêng biệt; trong đó 8 giống mía tiềm năng được lựa chọn thuộc về các nhóm di truyền I, III và V.
3. Mối tương quan giữa các yếu tố cấu thành năng suất mía và năng suất đường được xác định như thế nào?
Luận án chỉ ra rằng năng suất đường có mối tương quan thuận chặt chẽ với năng suất mía hơn so với chữ đường (CCS). Đồng thời, trong các yếu tố cấu thành sinh khối, năng suất mía đạt mối tương quan thuận cao nhất đối với mật độ cây hữu hiệu trên một đơn vị diện tích.
4. Giống mía nào thể hiện kết quả tốt nhất tại tỉnh Tây Ninh và tỉnh Khánh Hòa qua hai vụ khảo nghiệm?
Tại tỉnh Tây Ninh, giống FG05-623 đạt năng suất mía và năng suất đường cao nhất ở cả vụ mía tơ (119,6 tấn mía/ha; 12,8 tấn đường/ha) và vụ mía gốc I (82,7 tấn mía/ha; 7,3 tấn đường/ha). Tại tỉnh Khánh Hòa, giống FG05-256 thể hiện tính thích ứng tốt nhất với năng suất trung bình hai vụ đạt 114,0 tấn mía/ha và 12,4 tấn đường/ha, đồng thời thể hiện khả năng chống chịu sâu đục thân (Phragmataecia castaneae) và chịu hạn tốt.
5. Biểu hiện của gen P5CS ở các giống mía triển vọng thay đổi ra sao khi gặp điều kiện khô hạn?
Khi xử lý ngừng tưới nước trong 2 tuần, mức độ biểu hiện của gen P5CS (kích thước sản phẩm khuếch đại 252 bp) gia tăng rõ rệt ở 4 giống mía gồm FG05-256, FG05-623, VMC96-161 và giống đối chứng KK3 so với mẫu đối chứng được tưới nước đầy đủ, phản ánh phản ứng phiên mã kích hoạt con đường sinh tổng hợp proline dưới tác động của stress khô hạn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả đã thực hiện việc đánh giá nông học và đa dạng di truyền trên tập đoàn 32 giống mía nhập nội tại hai vùng sinh thái Tây Ninh và Khánh Hòa trong giai đoạn 2016-2021. Bằng việc kết hợp phương pháp khảo nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn quốc gia với kỹ thuật chỉ thị phân tử SSR và phân tích định lượng biểu hiện gen P5CS, công trình đã tuyển chọn được hai giống mía ưu tú gồm FG05-623 phù hợp cho tỉnh Tây Ninh và FG05-256 thích ứng cho điều kiện khô hạn tại tỉnh Khánh Hòa. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu di truyền và tính trạng nông học có giá trị thực tiễn cho công tác phát triển vùng nguyên liệu cũng như các chương trình lai tạo giống mía tại Việt Nam.