CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài. Đối với các nhà đầu tư thì thị trường chứng khoán Việt Nam (từ năm 2000) đã là một kênh đầu tư hấp dẫn, bên cạnh các kênh đầu tư lâu đời như bất động sản, vàng hay ngoại tệ. Song song với việc mang lại cho các nhà đầu tư những khoảng lợi nhuận đáng kể, thì thị trường chứng khoán cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro, những biến động và không ổn định. Để giúp cho các nhà đầu tư có những quyết định đầu tư đúng đắn cũng như đạt được lợi nhuận như mong đợi thì việc nghiên cứu các nhân tố tác động tỷ suất sinh lợi và ứng dụng các mô hình phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật để dự báo tỷ suất sinh lợi chứng khoán là rất cần thiết.
Tuy nhiên, những diễn biến trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua là bằng chứng cho việc thiếu vắng các nghiên cứu dự báo này. Đa số các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đều thực hiện quyết định đầu tư một cách cảm tính.Vì vậy, làm cách nào nhận biết được những nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu nhằm xây dựng một danh mục đầu tư hiệu quả nhất. Thấy được sự cần thiết của việc vận dụng các mô hình để dự đoán ảnh hưởng của các nhân tố lên tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, tác giả quyết định lựa chọn 3 nhân tố đại diện là Beta thị trường, khối lượng giao dịch và tỷ số doanh thu trên giá để nghiên cứu tác động của các biến lên tỷ suất sinh lợi. Tên đề tài được chọn “Tương quan chéo giữa tỷ suất sinh lợi, Beta thị trường, khối lượng giao dịch và tỷ số doanh thu trên giá trong thị trường chứng khoán Việt Nam”.2 Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu tương quan chéo giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu, Beta thị trường, tỷ số doanh thu trên giá và khối lượng giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 01/01/2008 đến 30/06/2013.3 Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của mình, tác giả đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau: - Sự thay đổi của nhân tố Beta thị trường trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? - Sự thay đổi của nhân tố khối lượng giao dịch có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? - Sự thay đổi của nhân tố tỷ số doanh thu trên giá có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? - Trong ba nhân tố - Beta thị trường, khối lượng giao dịch, tỷ số doanh thu trên giá, thì sự thay đổi của nhân tố nào chủ yếu ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam? 1.4 Kết cấu của đề tài Với những nội dung chính trên, phần còn lại của bài nghiên cứu sẽ được trình bày như sau: Chương2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Trong chương này, tác giả tóm tắt các nghiên cứu trước đây về các nhân tố như rủi ro, giá trị thị trường, định giá tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần (D/E), quy mô doanh nghiệp, E/P, CF/P, B/E,… ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu được niêm yết ở các sàn chứng khoán trên thế giới. Chương3: Mô tả dữ liệu và thảo luận về phương pháp nghiên cứu. Chương này, tác giả trình bày phương pháp, nguồn dữ liệu và đồng thời mô tả biến phụ thuộc và các biến độc lập được sử dụng trong bài nghiên cứu. 3 Chương 4: Trình bày kết quả từ các mô hình hồi quy.
Tác giả phân tích nhân tố Beta thị trường, khối lượng giao dịch, tỷ số doanh thu trên giá ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi vượt trội của các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chương 5: Kết luận chính, những hạn chế và hướng nghiên cứu mới. Trong chương này tác giả tổng kết và trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Đưa ra các hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi với rủi ro. William Sharpe (1964) đã đưa ra mô hình định giá tài sản vốn (Capital Asset Pricing Model- CAPM), mô hình này cũng được trình bày tương tự bởi Treynor (1961) và Lintner (1965) nhằm dự báo tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán thông qua Beta của chứng khoán đó. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) không phải là mô hình duy nhất dự báo tỷ suất sinh lợi nhưng nó có nền tảng lý thuyết vững chắc nhất. Mặc dù có nhiều tranh luận và nghiên cứu về tính ổn định của Beta cũng như những kiểm định thực nghiệm về mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) nhưng về cơ bản định giá tài sản vốn (CAPM) vẫn được xem là hiệu quả và đã tồn tại suốt 48 năm qua.
Trọng tâm của định giá tài sản vốn (CAPM) là danh mục thị trường của tài sản được đầu tư, là hiệu quả trung bình-phương sai của Markowitz (1959). Hiệu quả của danh mục thị trường hàm ý rằng: - Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu là một hàm tuyến tính dương với rủi ro hệ thống (Beta thị trường), - Beta thị trường là nhân tố rủi ro duy nhất để giải thích phương sai tương quan chéo của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Mô hình CAPM: ( ) [ ( ) ] (2.1) Khái niệm hệ số Beta trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) Trong đó: E(ri): tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phiếu i Rf: lãi suất phi rủi ro trên thị trường 5 E(rm): tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của thị trường i: thước đo mức độ rủi ro của tài sản ( ) ( ) Hệ số Beta là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hoặc danh mục trong tương quan với toàn bộ thị trường. Tức nó xác định phần trăm thay đổi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một chứng khoán khi có 1% thay đổi trong tỷ suất sinh lợi của danh mục thị trường.
Hệ số Beta là tham số quan trong trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Hệ số Beta của một danh mục đầu tư được xác định như sau: ∑ Trong đó: P: hệ số Beta của danh mục i: hệ số Beta của một chứng khoán i: tỷ trọng của chứng khoán i trong danh mục Về mặt hình học, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng chứng khoán và hệ số rủi ro Beta được biểu diễn bằng đường thẳng có tên gọi là đường thị trường chứng khoán SML (security market line).1: Mối quan hệ giữa lợi nhuận chứng khoán và β Nhìn vào hình vẽ ta thấy rằng: Khi hệ số Beta càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi ro hơn. - Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có Beta bằng 0 chính là lợi nhuận không rủi ro, Rf. - Beta bằng 1: tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán có Beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(rm).
Quan hệ giữa lợi nhuận và hệ số rủi ro Beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thẳng SML có hệ số góc là E(Rm) - Rf.2 Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi với giá trị thị trường Ban, R. (1981) thực hiện nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và giá trị thị trường của các cổ phiếu phổ thông trong bài nghiên cứu có nhan đề là “The relationships between return and market value of common stocks”. Mẫu nghiên cứu là tất cả các cổ phiếu phổ thông trên sàn chứng khoán New York (NYSE) từ năm 1926 đến 1975. 7 Kết quả cho thấy: - Các công ty có quy mô nhỏ có tỷ suất sinh lợi điều chỉnh rủi ro lớn hơn so với các công ty có quy mô lớn.
- Các công ty có quy mô lớn sẽ trả phần bù rủi ro cho các cổ phiếu của công ty có quy mô nhỏ. Và bài nghiên cứu này đã cho thấy mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) có sự thiếu sót khi cho rằng Beta thị trường là nhân tố rủi ro duy nhất để giải thích tương quan chéo của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng.3 Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi vớilợi tức thu nhập, giá trị thị trường. (1983) tìm hiểu mối quan hệ giữa lợi tức thu nhập, giá trị thị trường và tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu phổ thông trên sàn chứng khoán New York (NYSE) trong bài nghiên cứu có tựa đề là “The relationships between earnings' yield, market value and return for NYSE common stocks”. Mẫu nghiên cứu sử dụng dữ liệu các cổ phiếu phổ thông trên sàn chứng khoán New York (NYSE) trong giai đoạn từ tháng 12 năm 1962 đến năm 1978.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Cổ phiếu phổ thông của các công ty có lợi tức thu nhập E/P cao, thì sẽ có tỷ suất sinh lợi điều chỉnh rủi ro cao hơn so với cổ phiếu phổ thông của các công ty có lợi tức thu nhập E/P thấp hơn. Ảnh hưởng này có ý nghĩa rõ ràng kể cả khi đã kiểm soát biến quy mô doanh nghiệp. - Mặt khác, trong khi cổ phiếu phổ thông của các công ty có quy mô nhỏ thu được tỷ suất sinh lợi cao hơn đáng kể so với cổ phiếu phổ thông của công ty có quy mô lớn hơn, thì ảnh hưởng của biến quy mô hầu như không xuất hiện khi tỷ suất sinh lợi được kiểm soát bởi rủi ro và tỷ lệ E/P. Tuy nhiên, các 8 bằng chứng cũng đã chỉ ra rằng ảnh hưởng của E/P, không phải là hoàn toàn độc lập với quy mô doanh nghiệp và mà là sự ảnh hưởng của cả hai biến lên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng.4 Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi với định giá tài sản, chênh lệch giá đặt mua và giá chào bán., & Mendelson, (1986) tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi với định giá tài sản và chênh lệnh giá mua và giá bán trong bài nghiên cứu có tựa đề “Asset pricing and the bid-ask spread”.
Bài viết nghiên cứu ảnh hưởng của chênh lệch giá đặt mua và giá chào bán trong định giá tài sản. Tác giả phân tích một mô hình trong đó nhà đầu tư với các thời kỳ nắm giữ mong đợi khác nhau sẽ giao dịch tài sản với độ chênh lệch khác nhau.