CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan một số nghiên cứu Trong cộng đồng khi nói tới các dấu hiệu tổn thương SKTT là người ta nghĩ tới các biểu hiện qua “bên ngoài”, “hành vi”, hay “cảm xúc”. Các biểu hiện này cũng được xem như là tiêu chí đánh giá một người nào đó có “khoẻ” về mặt SKTT hay không. Do đó, các dấu hiệu tổn thương SKTT cũng được coi như là tình trạng SKTT của con người.
Việc nghiên cứu tình trạng SKTT hay các vấn đề liên quan tới SKTT nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng để từ đó có được các biện pháp nhằm nâng cao SKTT cho cộng đồng. Trên thế giới đã có khá nhiều các nghiên cứu về các RL tâm thần cụ thể, nhưng về SKTT nói chung vẫn còn hạn chế. Tương tự vậy các nghiên cứu về nhận thức của sinh viên đối với SKTT nói chung cũng chưa có nhiều trong khi các nghiên cứu về nhận thức SKTT đối với từng bệnh riêng lẻ lại khá phổ biến. Nhiều thành viên trong cộng đồng không thể nhận ra các rối loạn cụ thể hoặc các loại rối loạn tâm lý khác nhau.
Có sự khác biệt giữa các chuyên gia SKTT với cộng đồng về niềm tin các nguyên nhân gây rối loạn tâm thần và phương pháp điều trị hiệu quả nhất. Nếu như các chuyên gia dựa trên cơ sở khoa học để tiến hành trị liệu thì cộng đồng lại có xu hướng trị liệu theo kinh nghiệm và tin tưởng vào những gì đã có từ lâu đời. Thái độ là một trong những yếu tố cản trở việc thừa nhận và tìm kiếm trợ giúp thích hợp là rất phổ biến.Các nghiên cứu liên quan tới nhận thức về SKTT 1. Những nghiên cứu liên quan tới nhận thức SKTT trên thế giới Nhận thức về SKTT là một khái niệm đa chiều bao quát rộng rãi kiến thức và niềm tin của cá nhân về sức khoẻ tâm thần giúp nhận biết, quản lý hoặc phòng ngừa [19].
Nhận thức về SKTT cung cấp một cấu trúc hữu ích để hiểu các yếu tố có thể ảnh hưởng đến SKTT của một cá nhân và hành vi tìm kiếm giúp đỡ. Trên bình diện toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần cao, có ảnh hưởng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn đến chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng (Tổ chức Y tế thế giới, 2006, 2008). Tuy nhiên, so với sức khoẻ thể chất, người dân nói chung có kiến thức hạn chế về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần, có thể ảnh hưởng đến khả năng nhận ra các chứng rối loạn và tìm kiếm phương pháp điều trị hiệu quả [22]. Nhiều người trong công đồng không thể nhận ra chính xác các RLTT và không hiểu ý nghĩa của các thuật ngữ tâm thần.
Ví dụ, trong một nghiên cứu lấy mẫu đại diện là người dân Úc khi được hỏi về trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt, hầu hết đều nhận ra rằng có một số vấn đề về sức khoẻ tâm thần nhưng gọi đúng tên của RL đối với trầm cảm là 39% và tâm thần phân liệt 27% [16]. Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy cộng đồng có kiến thức về các triệu chứng cảm xúc của trầm cảm, nhưng ít có kiến thức về những thay đổi về thể chất [19]. Nghiên cứu của Lawrence T Lam về nhận thức SKTT và tình trạng SKTT ở thanh niên tập trung vào trầm cảm, dựa trên một điều tra cắt ngang dựa vào cộng đồng, với phương pháp lấy mẫu hai giai đoạn, tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây ở khu vực Tây Nam Trung Quốc vào tháng 10 năm 2013, trên đối tượng học sinh trung học từ 13-17 tuổi. Tổng cộng có 1678 sinh viên tham gia khảo sát cung cấp các thông tin hữu ích.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 275 (16,4%) người được hỏi được phân loại là có nhận thức về SKTT tương ứng với nhận dạng trầm cảm đúng và cũng có ý định tìm kiếm sự giúp đỡ, với 392 (23,4%) trong tổng số mẫu nhận diện được trầm cảm [21]. Trong một nghiên cứu trước đây của Jorm và cộng sự được thực hiện vào năm 2005 cho thấy rằng gần một nửa số người trả lời không thể xác định trầm cảm chính xác. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu sau này trong năm 2011 tỷ lệ nhận biết chính xác sự trầm cảm đã được tìm thấy là khoảng 75%. Kết quả tương tự về nhận biết các triệu chứng trầm cảm cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu khác được thực hiện ở Úc gần đây.
Có 70% số sinh viên trình độ đại học đã nhận ra tình trạng trầm cảm. Trong so sánh, chỉ có 23,4% người 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được hỏi lại trong nghiên cứu này đã xác định chính xác trầm cảm. Tỷ lệ nhận dạng trầm cảm thấp có thể liên quan đến thực tế là các phản hồi trẻ hơn và có thể có ít kinh nghiệm cá nhân về tâm trạng trầm cảm. Nó cũng có thể liên quan đến khả năng thiếu giáo dục sức khoẻ tâm thần được thiết kế đặc biệt để nhắm mục tiêu vào những người trẻ tuổi ở địa bàn địa lý mà cuộc khảo sát đã diễn ra.
Về những kết quả đạt được về mối quan hệ giữa hiểu biết về sức khoẻ sức khoẻ tâm thần và trầm cảm ở trẻ vị thành niên, so sánh kết quả có thể gặp khó khăn vì chưa có nghiên cứu nào tìm thấy trong tài liệu. Do đó, nghiên cứu này có thể được coi là độc nhất và kết quả thu được chưa được báo cáo trước đây [21]. Nghiên cứu được tiến hành trên nhóm nhân viên và sinh viên của Đại học Victoria (VU) tại Melbourne, Úc. Trong số các cuộc phỏng vấn đã hoàn thành, 774 (65%) là sinh viên và 422 (35%) là giảng viên.
Hơn 70% sinh viên và nhân viên có thể nhận ra trầm cảm, với khả năng nhận biết tốt hơn liên quan tới tuổi, giới tính, sinh ở Úc và trình độ học vấn cao hơn. Hơn 80% người được hỏi cho biết họ sẽ tìm kiếm sự trợ giúp nếu họ gặp vấn đề tương tự như trong tình huống đưa ra. Tuy nhiên, tỷ lệ các ý định tìm kiếm trợ giúp cụ thể cho sinh viên tương đối thấp, chỉ có 26% lựa chọn bác sĩ đã khoa, 10% lựa chọn tư vấn học đường. Các yếu tố liên quan đến thái độ kỳ thị bao gồm giới tính nam, tuổi trẻ, trình độ học vấn thấp hơn, sinh ra bên ngoài nước Úc và thiếu nhận thức về trầm cảm [24].
Điều tra quốc gia về nhận thức và kỳ thị về SKTT của Reavley và Jorm năm 2011, là một cuộc khảo sát gồm hai cấu phần: một cuộc khảo sát trên toàn cộng đồng những người từ 15 tuổi trở lên và một cuộc khảo sát thanh thiếu niên những người từ 15 đến 25 tuổi. Điều tra cộng đồng nói chung bao gồm các cuộc phỏng vấn qua điện thoại với sự hỗ trợ của máy tính trên 6019 người và cuộc điều tra thanh niên đã tiến hành phỏng vấn tương tự với 3025 thanh thiếu niên. Cuộc điều tra được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2011. Các cuộc phỏng vấn dựa trên các tình huống được mô tả (vignette) của một người 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bị rối loạn tâm thần.
Trên cơ sở ngẫu nhiên, người trả lời trong cuộc khảo sát cộng đồng đã được đọc một trong sáu trường hợp: trầm cảm, trầm cảm với ý nghĩ tự tử, tâm thần phân liệt sớm, bệnh tâm thần phân liệt, ám ảnh xã hội và rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Đối với cuộc khảo sát thanh niên, các tình huống minh hoạ: trầm cảm, trầm cảm với suy nghĩ tự tử, trầm cảm với lạm dụng chất gây nghiện, tâm thần / tâm thần phân liệt, ám ảnh xã hội và PTSD. Sau khi được giới thiệu các tình huống, người trả lời đã được hỏi một loạt các câu hỏi để đánh giá nhận thức của họ về rối loạn trong tình huống mô tả, các ý định tìm kiếm trợ giúp, niềm tin về các can thiệp, niềm tin và ý định về cấp cứu, niềm tin về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, niềm tin về các kết quả, niềm tin về phòng ngừa, thái độ kỳ thị, tiếp xúc với rối loạn tâm thần, tâm lý căng thẳng, nhận thức của các tổ chức liên quan đến sức khoẻ tâm thần, tiếp xúc với phương tiện truyền thông và các đặc điểm xã hội. Kết quả cho thấy đối với cả hai cuộc điều tra, khoảng 75% trong số những người được đưa ra tình huống với trầm cảm đã có thể ghi nhãn bệnh này một cách chính xác.
Khoảng 1/3 có thể dán nhãn cho các tình huống đối với bệnh tâm thần phân liệt và PTSD. Trong cuộc điều tra cộng đồng nói chung, chỉ có 9% người được hỏi có thể dán nhã chính xác cho tình huống về ám sợ xã hội, trong khi điều tra thanh niên, chỉ có 3% có thể làm như vậy. Trong cuộc tổng điều tra cộng đồng, các bác sĩ đa khoa thường được coi là nguồn giúp đỡ đối với trầm cảm và tâm thần phân liệt tốt nhất, trong khi tham vấn thường được coi là hữu ích nhất cho chứng rối loạn lo âu. Trong cuộc khảo sát thanh niên, đại đa số người trả lời báo cáo rằng họ sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ, với các triệu chứng trầm cảm với suy nghĩ tự tử và PTSD.
Các ý định tìm kiếm sự giúp đỡ từ các nguồn không chính thức là phổ biến nhất. Việc quá xấu hổ hoặc nhút nhát là rào cản được thừa nhận nhiều nhất để thúc đẩy người trẻ tìm kiếm sự trợ giúp [25]. Một cuộc khảo sát ở vùng nông thôn Maharashtra, Ấn Độ của Kermode, Bowen và cs (2007) để tìm hiểu về nhu cầu được thăm khám SKTT của người dân bằng việc sử dụng bảng hỏi “Đánh giá nhận thức về SKTT – Mental 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Health Literacy assessment” trên 240 người dân và 60 nhân viên chăm sóc sức khoẻ. Người tham gia phỏng vấn được giới thiệu hai trường hợp mô tả một số triệu chứng của RLTT (trầm vảm, loạn thần) của một người gặp phải.
Nhiệm vụ của họ là cần phải gọi tên được vấn đề, nhận diện được cách điều trị và những người có thể điều trị RL đó, và kết quả lâu dài cảu RL đó. Kết quả, hầu hết người được hỏi nhận ra được các trường hợp có vấn đề SKTT. Việc điều trị từ phía gia đình, bạn bè, môi trường xung quanh được xem là cách hỗ trợ phổ biến nhất.