Phần mở đầu - Phần nội dung nghiên cứu - Phần kết luận và kiến nghị Trong phần nội dung gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài + Chƣơng trình này trình bày cơ sở lý luận về xác định mục tiêu bài học sao cho có thể định hƣớng lựa chọn các biện pháp dạy học phát triển đƣợc năng lực học sinh. + Thực trạng dạy học ở nhà trƣờng THPT - Chƣơng 2: Tƣờng minh hóa mục tiêu bài học để tổ chức dạy học chƣơng 1 và 2 phần Di truyền học Sinh học 12 THPT. + Chƣơng trình này trình bày việc xác định mục tiêu bài học sao cho có thể tổ chức dạy học theo hƣớng phát triển năng lực HS trong dạy học phần Di truyền học Sinh học 12 THPT. + Đánh giá mức độ đạt đƣợc mục tiêu bài học - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm Chƣơng này trình bày mục đích, nội dung, phƣơng pháp, kết quả thực nghiệm và nhận xét rút ra từ thực nghiệm.
Ngoài ra luận văn còn có: - Mục lục, - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm mục tiêu giáo dục và phân loại mục tiêu giáo dục 1. Khái niệm mục tiêu giáo dục Giáo dục là một hoạt động xã hội có chức năng làm cho thế hệ sau chiếm lĩnh (tiếp thu) đƣợc di sản xã hội của thế hệ trƣớc, bao gồm những hiểu biết, năng lực và phẩm chất mà các thế hệ trƣớc đã tích luỹ đƣợc. Nhƣng không phải mỗi ngƣời trong các thế hệ sau đều cần và đều có thể tiếp thu đƣợc toàn bộ di sản đó, một số ngƣời này hay ngƣời kia chỉ cần và chỉ có thể tiếp thu đƣợc một phần trong di sản đó với yêu cầu là tất cả những ngƣời đó cộng lại thì toàn bộ di sản đƣợc truyền cho thế hệ sau.
Nhƣ vậy, trong sự chiếm lĩnh này, có một sự phân công xã hội: mỗi ngƣời phải chiếm lĩnh một phần trong di sản xã hội cần cho việc sống để hoạt động trong xã hội của mình, vừa đáp ứng đƣợc nhu cầu của xã hội phải tồn tại và phát triển. Mục tiêu giáo dục chính là để giải quyết sự phân công xã hội trong việc chiếm lĩnh di sản của thế hệ trƣớc cũng nhƣ trong việc đáp ứng yêu cầu tồn tại và phát triển của thế hệ hiện nay [5]. Mục tiêu giáo dục là hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tƣợng ngƣời cần đƣợc giáo dục nhất định. Đó là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tƣợng giáo dục Nhƣ vậy, mục tiêu giáo dục phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển xã hội và mỗi giai đoạn của quá trình giáo dục con ngƣời.
Mục tiêu mang đến cái đích trực tiếp cho quá trình giáo dục và là cơ sở cho những quyết định cần thiết trong quá trình giáo dục. Mục đích và mục tiêu giáo dục là hai khái niệm cùng đƣợc dùng trong một chu trình, đều nói đến kết quả mong muốn đạt đƣợc của hoạt động giáo dục, giảng dạy, học tập. Mục đích giáo dục chủ yếu nói về sự hƣớng tới cái đích muốn đến, về kết quả mong muốn đạt đƣợc, mục đích giáo dục là cái đích đã dự kiến trƣớc một 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách khái quát có tác dụng định hƣớng chung cho hoạt động. Mục tiêu giáo dục nói về kết quả giáo dục cần phải đạt đƣợc trong thực tế và chắc chắn đạt đƣợc trong phạm vi hoạt động nhất định.
Mục tiêu giáo dục cụ thể hơn mục đích, nó phải đƣợc thiết kế sao cho thực hiện đƣợc hai chức năng, đó là chức năng chỉ đạo cách tổ chức thực hiện các quá trình giáo đục đồng thời thực hiện chức năng làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả giáo dục một cách chuẩn xác. Trong nhiều trƣờng hợp, mục tiêu giáo dục phải lƣợng hoá đƣợc, đo đạc đƣợc, quan sát đƣợc, thì mới làm đƣợc hai chức năng nói trên. Phân loại mục tiêu giáo dục Có nhiều cách phân loại mục tiêu giáo dục tuỳ theo những hoạt động cần đƣợc thể hiện từ phía ngƣời học. Có thể phân loại các mục tiêu giáo dục nhƣ sau: - Mục tiêu giáo dục tổng quát: mục tiêu này vạch ra mẫu con ngƣời lý tƣởng của một chế độ xã hội nhất định.
- Mục tiêu giáo dục của từng ngành giáo dục lớn (phổ thông, đại học.), từng cấp học, từng bậc học và từng ngành học chuyên môn cụ thể trong các ngành học đại học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề (nhƣ ngành học sƣ phạm sinh học, trồng trọt, thuỷ sản. Việc xác định các loại mục tiêu này là trả lời trực tiếp cho câu hỏi dạy và học để làm gì. - Các mục tiêu ngắn hạn của từng bƣớc giáo dục nhằm cụ thể hoá các mục tiêu nhƣ nói trên, nhƣ mục tiêu của một môn học, của một học kỳ, của một bài giảng, bài tập. Tất cả các loại mục tiêu với các mức độ từ tổng quát đến cụ thể làm thành một hệ thống, một “cây” mục tiêu từ gốc đến cành ngọn.
Các mục tiêu chi tiết cho từng phần, từng bƣớc, vừa phải nhằm thực hiện mục tiêu chung, là biện pháp để thực hiện mục tiêu chung qua từng bƣớc cụ thể, vừa là các khâu trung gian để kiểm tra lại tính hiện thực của mục tiêu chung [5]. Trong giáo dục, có thể dùng phép phân loại mục tiêu của B.Bloom và cộng sự có thể phân ra ba lĩnh vực của mục tiêu nhƣ: nhận thức, xúc cảm và hành động, ba lĩnh vực này đƣợc thể hiện cụ thể nhƣ sau: Lĩnh vực nhận thức (Lĩnh vực tiếp cận trí tuệ): Ở lĩnh vực này, những mục tiêu chủ yếu thuộc khả năng hiểu biết bao gồm những mục tiêu liên quan đến sự nhận ra, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự nhớ đƣợc một kiến thức, bao gồm những kỹ năng về lí luận, về lập luận; bao gồm việc thu thập các sự kiện, việc giải thích, lập luận theo kiểu suy diễn và quy nạp, sự đánh giá có phê phán. Theo Bloom, mục tiêu giáo dục ở lĩnh vực nhận thức đƣợc chia làm sáu phạm trù chính yếu; mỗi phạm trù lại đƣợc chia ra nhiều mục tiêu nhỏ. Cụ thể: Biết: đây là mức độ thấp nhất chủ yếu là ghi nhớ và nhắc lại đƣợc những gì, yêu cầu nhớ lại hay nhận lại các sự kiện, các thuật ngữ, các quy ƣớc, các nguyên tắc các quy luật đặc trƣng.
mà không cần phải giải thích. Hiểu: bao gồm tri thức những ở mức độ cao hơn, đòi hỏi biết đƣợc cả ý nghĩa của tri thức, liên hệ chúng với những gì đã học, đã biết. Hiểu đƣợc thể hiện ở ba dạng: + Chuyển dịch: có thể truyền đạt lại thông tin thu nhận đƣợc bằng các thuật ngữ khác hay bằng một hình thức khác của thông tin. + Giải thích: hành vi cơ bản của giải thích là khi đƣa ra một thông tin, có thể nắm vững đƣợc ý tƣởng chính có trong thông tin đó, đồng thời hiểu đƣợc mối liên hệ bên trong giữa chúng.
Có thể sắp xếp ý tƣởng lại thành một dạng mới, nó bao gồm khả năng nhận ra những cái cơ bản và phân biệt chúng với cái khác. + Ngoại suy: là khả năng đƣa ra những kết luận bằng sự suy luận, khả năng tiên đoán, nó bao gồm việc đánh giá hay dự đoán dựa trên sự hiểu biết khuynh hƣớng hay điều kiện đƣợc mô tả trong thông tin; bao gồm các phán đoán về cái tổng thể từ việc mô tả một mẫu hay ngƣợc lại phán đoán về một mẫu mà thông tin đó mô tả cái tổng thể. - Áp dụng: đƣợc dựa trên sự thông hiểu, là mức độ cao hơn so với sự thông hiểu. Khi áp dụng, cần phải căn cứ vào những hoàn cảnh hoặc những điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng các tri thức đã học vào việc giải quyết một vấn đề nào đó.
- Phân tích: là thao tác phân chia tài liệu lí thuyết thành các bộ phận đơn vị kiến thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của lí thuyết. Phân tích là sự khám phá ra các tổ chức và cấu trúc của một thông tin, có thể coi phân tích nhƣ là sự trợ giúp cho sự hiểu đầy đủ hơn của thông tin; mức độ thứ nhất là chia tài liệu thành những phần cấu thành của nó, sắp xếp các yếu tố của thông tin; mức độ thứ hai là làm sáng tỏ các mối quan hệ tác động qua lại giữa các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yếu tố; mức độ thứ ba là biết đƣợc các nguyên tắc tổ chức, sắp xếp và cấu trúc liên kết thông tin thành một chỉnh thể. - Tổng hợp: là sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một tổng thể trong quá trình tổng hợp, các yếu tố, các thành phần đƣợc nhào nặn, chế biến và kết hợp lại bằng phƣơng thức nào đó để thành một kiểu loại hay một cấu trúc khác với cấu trúc trƣớc đó Trong phân tích cũng cần có sự liên kết các yếu tố nhƣng nó có tính bộ phận hơn là tính toàn thể, còn trong phạm trù tổng hợp chế biến những yếu tố đã cho thành một tổng thể, nó nhấn mạnh hơn đến tính thống nhất và tính sáng tạo. - Đánh giá: đƣợc xem là việc phán đoán về một giá trị của các ý tƣởng, của các tác phẩm, của các cách giải quyết, của phƣơng pháp, của tài liệu.
Theo Bloom, mặc dù đánh giá đƣợc sắp đặt sau cùng trong lĩnh vực tri thức bởi vì nó đƣợc xem nhƣ đòi hỏi ở một chừng mực nào đó với tất cả các phạm vi của hành vi khác nhƣng nó không cần thiết là giai đoạn cuối cùng trong việc suy nghĩ hay giải quyết vấn đề. Hạn chế của cách phân loại này là ở tính phức tạp của nó, đặc biệt là tính độc lập và cách xếp thứ tự các phạm trù. Trong thực hành, hệ thống xếp loại này gặp một số khó khăn ở giai đoạn giữa, cho đến nay, hệ thống phân loại của Bloom vẫn không ngừng đƣợc cải tiến. Nhìn chung, hệ thống phân loại càng đơn giản và cụ thể thì càng dễ dàng.
Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến các mục đích thuộc về hứng thú, các thái độ và giá trị.