Chương 1: Những van dé lý luận về tuổi chịu TNHS. Chương 2: Tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tuổi chịu TNHS. 4 CHUONG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE TUOI CHIU TRÁCH NHIEM HÌNH SỰ 1.
Khái niệm tuôi chịu trách nhiệm hình sự Tại Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1989) có quy định: “Trong phạm vì của công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới l8 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quyết định tuổi vị thành niên sớm hơn.” [13] Hoặc tại Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay người it tuổi tu) theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thúc khác với việc xét xử người lớn" (Quy tắc số 2.2 mục a); [26] Quy tắc tối thiểu phố biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do thông qua ngày 14-12-1990 nêu cụ thé: "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cân phải được pháp luật xác định và không được tước quyên tự do của người chưa thành niên" (Quy tắc 2.1 mục a) [27] Như vậy hiểu theo tỉnh thần trên, thuật ngữ người chưa thành niên sẽ bị chi phối bởi độ tuổi. Cụ thé Liên Hợp Quốc quy định tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Tại sao lay mốc dưới 18 tuổi để quy định tuổi của người chưa thành niên? Trên lý thuyết và cả trong thực tế, sự hình thành và phát triển của một con người cho thấy độ tuổi 18 là độ tuổi đánh dấu bước phát triển về mặt sinh học cũng như mặt xã hội, mặt nhận thức của một con người.
Bước vào tuổi 18 con người phát triển toàn diện và hầu như đầy đủ về mặt thể lực. Mọi cơ quan sinh học đều đã được hình thành vững chắc, đảm bảo một sự sông lâu bén cho cơ thé. Trong khi đó song song với quá trình phát triển thể lực là trí lực. Sự nhận thức của con người về thế giới khách quan cũng toàn diện, đầy đủ và tăng dần lên.
Con người lúc này đã kiểm soát được hành vi của mình, nhận biết được sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và nhận thức được những điều sai — đúng, trái - phải. Có thé nói trong giai đoạn nay con người đã thực sự phát triên một cách toàn diện về mặt 5 sinh hoc cũng như xã hội, nên bước sang ngưỡng tuôi 18 họ hoản toàn được xác định và công nhận là người đã thành niên. Theo nguyên tắc trên, Liên Hợp Quốc đưa ra quy định về độ tuôi người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Ở độ tuổi dưới 18 này khi có hành vi trái pháp luật sẽ có một cơ chế giải quyết riêng, như trong báo cáo của Ủy ban quyền trẻ em Liên Hợp Quốc về công tác tư pháp người chưa thành niên đã xác định: “Mọi quốc gia đều có những khó khăn trong việc thực hiện Công ước đối với những người chưa thành niên làm trái pháp luật”.
Tuy nhiên một van dé đặt ra là TNHS đặt ra đối với người chưa thành niên xác định dưới 18 tuổi nhưng độ tuôi tối thiểu phải chịu TNHS là bao nhiêu? Có nghĩa với mức tối đa là dưới 18 tuổi nhưng mức tối thiểu dé xác định người chưa thành niên phạm tội có tuổi thấp nhất là bao nhiêu? Điều này được nêu ra trong quy tắc tối thiêu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, giới hạn tuổi dưới mức này can phải được pháp luật quốc gia xác định”. [27] Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bản chất là nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, một nhà nước lấy tiêu chí dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh làm mục tiêu phan dau xây dựng. Với ban chất đó, nhà nước ta thực sự là nhà nước dân chủ và nhân đạo. Bản chất dân chủ và nhân đạo được thể hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt thê hiện rõ trong hệ thống pháp luật.
Trong đó pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén hữu hiệu dé dau tranh phòng ngừa và chống tội phạm. bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Với tư tưởng nhân đạo sâu sắc đó việc truy cứu TNHS đối với người chưa thành niên ở độ tuôi nào, trong những trường hợp nao va với những loại tội phạm nao, được nhà nước cân nhắc. nghiên cứu và dựa trên những cơ sở khoa học nhất định.
Việc xác định một người là chủ thé của tội phạm phải dựa vào nhiều điều kiện, yêu tô khác nhau được luật hình sự quy định mật cách chặt chẽ. Trong các 6 yêu tô đó, độ tuổi chịu TNHS là một trong những yếu tổ rất quan trọng, nó phản ánh khá rõ nét chính sách hình sự của Nhà nước. Trong báo cáo tổng kết hội nghị công tác xét xử 4 năm (1965 — 1968) của Tòa án nhân dân tối cao đã nêu: “Nếu chỉ xét riêng về khía cạnh năng lực TNHS thì đổi với các trường hợp cá biệt cũng có thé đặt ra van dé truy cứu TNHS của các em dưới 14 tuổi. Nhưng không nên đơn thuân chỉ nhìn vào vấn dé này dưới giác độ “năng lực trách nhiệm hình sự” mà điều chủ yếu phải nhìn cả dưới giác độ "yêu cầu của xã hội doi với nhiệm vụ giáo dục thiếu niên nữa.” [44] Như vậy, việc xác định độ tuổi chịu TNHS không chỉ là cơ sở để xác định năng lực TNHS mà còn xuất phát từ cơ sở xã hội nhất định, từ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
Ở độ tuôi chưa thành niên, do đặc điểm tâm lý phát triển chưa hoàn thiện, tính tự chủ còn thấp vì vậy họ dễ bị lôi kéo, nhưng do khả năng tiếp thu sự giáo dục ở họ còn dễ dàng cho nên đường lối xử lý chủ yếu của nhà nước ta là giáo dục, phòng ngừa. Chỉ trong những trường hợp nhất định do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa chung cũng như phòng ngừa riêng mới buộc phải truy cứu TNH§ đối với người chưa thành niên. Điều 69 BLHS quy định: “Việc xử ly người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo duc, giúp đỡ họ sửa chữa sai lâm, phát triển lành mạnh và trở thành công dan có ích cho xã hội”. Nguyên tắc xử lý trên vừa thể hiện tính khoa học trong việc áp dụng TNHS, đồng thời thé hiện tính nhân đạo sâu sắc trong đường lối đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.
Con người bam sinh không phải đã có năng lực TNHS. Năng lực TNHS là năng lực của tự ý thức được hình thành trong quá trình phát triển của các cá thể về mặt tự nhiên và xã hội. “Chi trong ý thức, con người mới tách mình và độc lập với thể giới xung quanh, xác định vị trí của mình trong những quan hệ tự nhiên và xã hội. Từ đó hình thành nên ca nhân những chu thể có y thức đây đủ về hoạt động của mình." [36] Ö mỗi con người bình thường đều có khả năng hình thành và phát triển ý thức và tự ý thức.
Nhưng phải trải qua quá trình giáo dục và hoạt động trong điều kiện xã hội, khả năng đó mới trở thành hiện thực. Như vay, năng lực TNHS chi hình hành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định 7 và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển hình thành trong thời gian nhất định tiếp theo. Khi đạt độ tuổi đó, con người nói chung sẽ có năng lực TNHS, trừ trường hop cá biệt — những trường hợp mà Luật hình sự coi là tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS). [36] Mặc dù tuổi chịu TNHS là một trong những đặc điểm quan trọng của tội phạm, nhưng rất tiếc nó vẫn chưa được chính thức ghi nhận trong định nghĩa pháp lý của khái niệm tội phạm theo Luật Hình sự Việt Nam.
Đồng thời, cho đến nay khái niệm “người đủ tuổi chịu TNHS” là người như thé nào? Phải chăng có những tiêu chí gì cũng vẫn chưa được làm sáng tỏ về mặt lý luận. Điều 12 BLHS hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc quy định ở độ tuổi nào thì một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ phải chịu TNHS hay ở độ tuổi nao một người bắt đầu có năng lực TNHS.TSKH Lê Cảm thì: “Du uổi chịu TNHS - đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm dé có thé có khả năng nhận thức được đây đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, cũng như có khả năng diéu khiển được đây đủ hành vi ay”. [8] Trên cơ sở những phân tích, lập luận nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tuổi chịu TNHS: “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật Hình sự quy định nhằm xác định sự phát triển của một con người mà khi đến độ tuổi đó mới có kha năng phải chịu trách nhiệm hình sự (loại trách nhiệm hình sự và mức trách nhiệm hình sự) về hành vi phạm tội do mình gây ra. Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Một nhà nước khi có nhiều người chưa thành niên bị xét xử trước tòa án, phần nào đã phản ánh đặc tính xã hội, nền văn minh xã hội của nhà nước đó. Một xã hội văn minh, nhân đạo không thể là xã hội có nhiều tù nhân, đặc biệt là tù nhân trẻ em, những người chưa thành niên bị nhà nước coi là tội phạm. Bởi nhà nước cũng phải coi con người vi phạm là một phan tử sống của nhà nước. Trong đó có máu của trái tim nhà nước đang chảy, là một người lính bảo vệ tô quốc, là người chủ trong gia đình mà sự tồn tại that là thiêng liêng.
và cudi cùng chủ chôt nhât là rnột công dân của Nhà nước. Nhà nước không thé gat bo 8 mộ: thành viên của mình ra khỏi tat cả những chức năng đó.