Chương 1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: Chương 2. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra: Chương 3. Thực tiễn áp dung pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại tỉnh Vĩnh Phúc và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật.
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM BOI THUONG THIET HAI DO NGUON NGUY HIEM CAO ĐỘ GAY RA 1. Khái niệm, đặc điểm và các tiêu chí xác định nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ. Khái niệm “nguồn nguy hiểm cao độ” đã được xuất hiện trong pháp luật ở nhiều quốc gia song vẫn chưa có những sự thống nhất về khái niệm này.
Trong pháp luật Hoa Kỳ về hành vi gây thiệt hai, với khái niệm “sự thiét hai tiềm tàng” (Potential Harm) và nguyên tắc tổng quát “buộc mọi người phải than trong một cách hop lý dé không gây thiệt hai cho người khác ”, “trách nhiệm tuyệt 6 doi” (Strict Liability) đã cho thấy sự khắt khe tuyệt đối buộc một người có thé phải chịu trách nhiệm bôi thường thiệt hại cho dù không có ý gây thiệt hại hay đã có sự thận trọng cần thiết dé tránh gây thiệt hại! Có thê thấy, pháp luật Hoa Kỳ rất khắt khe về quy định “nguồn nguy hiểm cao độ”. Việc đưa ra nguyên tắc tổng quát “bắt buộc” mọi người phải thận trọng để không xây ra thiệt hại cho người khác giống như một sự yêu cầu buộc phải làm theo dé rin đe, bắt buộc phải thực hiện. Có nghĩa là dù ở trong trường hợp nao, nếu đã gây ra thiệt hại thì pháp luật Hoa Kỳ sẽ luôn áp đụng nguyên tắc phải chịu trách nhiệm một cách tuyệt đối. BLDS và Thương mại của Thái Lan quy định: “Mộ? người phải chịu trách nhiệm về ton thất xảy ra do bắt cir sự vận chuyển nào được kéo, day bằng máy móc được quyền chiếm hữu hoặc kiếm soát của người đó, trừ khi người đó chứng minh được là tồn thất bắt nguồn từ ly do bat kha kháng hoặc do lỗi của người bị thiệt hại.
Điều này được áp dụng đối với người chiếm hữu những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng ”. Như vậy, quy định trong BLDS và Thương mại của Thái Lan đã thể hiện 1 Trân Tra Giang (2011), “Mot số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bôi thường thiệt hại do nguồn nguy hiém cao độ gây ra”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Dai học Luật Hà Nội. 11 được những vấn để, khía cạnh sau đây về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Thứ nhất, quy định của pháp luật Thái Lan xác định nguồn nguy hiểm cao độ dẫn đến thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm, chịu bồi thường do “sự vận chuyển nào được kéo, đầy bằng máy móc được quyền chiếm hữu hoặc kiểm soát của người đó”.
Thứ hai, họ cũng đưa ra các trường hợp loại trừ khi người phải chịu trách nhiệm về tổn thất chứng minh được là tốn thất đó là do bat khả kháng hoặc do lỗi của người bị thiệt hại. Thứ ba, họ cũng quy định rõ điều luật này được áp dụng với người chiếm hữu những vật có thể gây nguy hiểm bởi tính chất, mục đích hoặc sự vận hành cơ khí của chúng. Điều 494 BLDS nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 2018 quy định nguồn nguy hiểm cao độ là “phương tiện chạy bằng máy, hệ thống đường dây dân điện, nhà may sản xuất công nghiệp, vũ khí, bom, vật cháy, hóa chất độc, phóng xạ, hóa chất hoặc các vật nguy hiểm khác ”. BLDS Lào cũng đã liệt kê các nguồn nguy hiểm cao độ như phương tiện chạy bằng máy móc, hệ thống đường dây dẫn điện, nhà máy sản xuất công nghiệp, vũ khí, bom, vật cháy, hóa chất độc, phóng xạ, hóa chất hoặc các vật nguy hiểm khác.
Phương pháp liệt kê rõ các nguồn nguy hiểm cao độ này giúp cho các nhà làm luật xác định rõ hơn về lỗi của người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Có thê thấy, khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ ở pháp luật của một số quốc gia vừa nêu trên quy định theo hướng liệt kê tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ mà không có khái niệm chung nhất để khái quát bản chất của nguồn nguy hiểm cao độ. Vì vậy việc nhận diện đối tượng nào là nguồn nguy hiểm cao độ, hay việc liệt kê đầy đủ các loại tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ sẽ trở nên khó khăn hơn đối với các nhà làm luật. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự các nước hay các quan điểm cá nhân vẫn chưa xuất hiện được một cách chính xác về khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ.
Các định nghĩa mới chỉ được liệt kê và định nghĩa một cách cơ bản về nguồn nguy hiểm cao độ là những đối tượng luôn tiềm ấn sự nguy hiểm, rủi ro cao đối với tính mạng, tai sản, sức khỏe của con người. 12 Trên thực tế, khi bàn luận về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ, có nhiều tranh luận đối với những sự vật có tính chất nguy hiém được pháp luật công nhận là nguồn nguy hiểm cao độ. Khái niệm nguén nguy hiểm cao độ gắn với sự vận động của bất cứ loại tài sản nào cũng có những điểm chung như sau: Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn “tiềm ân nguy cơ gây ra thiệt hại về vật chất mà không phải bao giờ con người cũng có thể lường trước được và có thé ngăn chặn””. Thứ hai, tần suất gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ cao hơn so với các loại tài sản khác, thường xảy ra liên tục (ví dụ như các vụ cháy no dau, ga, thuốc nổ, thuốc súng, pháo.
thường kéo dài cho đến khi các chất này cháy hết, nỗ hết). Thứ ba, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường khó hạn chế, khắc phục, còn có khả năng gây ra hậu quả tiếp theo mà con người khó có thể ngăn chặn hoàn toàn (khó xử lý sự cố rò rỉ phóng xạ; ngăn chặn sự cố nổ liên hoàn của kho thuốc nổ). Có nghĩa là, mặc dù con người có thể có trách nhiệm, ý thức trong việc quản lý nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không có nghĩa là bảo đảm được một cách chắc chắn rằng những tài sản đó sẽ không gây ra thiệt hại. Bởi vì theo đặc tính cơ bản của nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản 4n chứa nguy cơ cao gây ra thiệt hại.
Thứ tư, ngay cả khi có sự kiểm soát, quản lý chặt ché của con người, nguồn nguy hiểm cao độ cũng có thé gây thiệt hại. Đặc điểm thứ tư này thé hiện rõ, con người “không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại”Ẻ. Hiện nay BLDS 2015 vẫn tiếp tục sử dụng phương thức liệt kê giống như trong BLDS 1995 và 2005 để xác định các loại nguồn nguy hiểm cao độ. Các nhà làm luật Việt Nam quy định về nguôn nguy hiểm cao độ được thé hiện rõ tại khoản 1 ? Phùng Trung Tập (2009), Bồi thường thiệt hại ngoài hợp dong về tài sản, sức khoẻ và tính mạng, Nxb.
Hà Nội, Hà Nội. 3 Trần Thị Huệ (2013), Trách nhiệm bôi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dan sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr. 13 Điều 601 BLDS năm 2015 tuy nhiên không định nghĩa về bản chất mà chỉ liệt kê một số nguồn nguy hiểm cao độ ví dụ như là “phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thong tai điện, nhà may công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nồ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dit và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy dinh’”.
Ưu điểm của phương thức liệt kê đó là rõ rang, dé hiểu và ít gây quan điểm. Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này có thê là liệt kê không đầy đủ dẫn đến thiếu sót và đồng thời phương thức liệt kê không xác định rõ được bản chất của nguồn nguy hiểm cao độ. Sau khi phân tích quy định của pháp luật các nước nói chung và quy định của pháp luật Việt Nam nói riêng, quan điểm của tác giả thấy rằng nhìn chung khái niệm về nguồn nguy hiểm cao độ đang được nhìn nhận theo góc độ sau đây. Day mới chỉ đừng lại ở khái niệm được liệt kê những đối tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ mà vẫn chưa đưa ra được tiêu chí chung dé xác định nguồn nguy hiểm cao độ.
Từ những nội dung trên, theo quan điểm của tác giả cho rằng: Nguồn nguy hiểm cao độ là những sự vật trong thé giới tự nhiên mà hoạt động của ching tiêm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho con người và môi trường xung quanh mà con người không hoàn toàn kiểm soát được nguy cơ gây thiệt hại. Đặc điểm nguồn nguy hiểm cao độ. Pháp luật dân sự Việt Nam không đưa ra tiêu chí chung ma quy định theo hướng liệt kê những đổi tượng được coi là nguồn nguy hiểm cao độ. Về cơ bản, ngudn nguy hiểm cao độ có những đặc điểm chung sau đây: Thứ nhất, nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ân khả năng gây ra thiệt hại bất ngờ và nhanh chóng cho con người và môi trường xung quanh khiến cho con người không thé lường trước được.
Thực tế con người có thể nắm bắt được quy trình vận hành của chúng nhưng “không thể kiêm soát được một cách tuyệt đối nguy cơ gây ra thiệt hai”. Trường hợp thiệt hại xảy ra một cách bất ngờ (Ví dụ xe máy đang đi 4 Khoan 1 Điều 601 Bộ luật dan sự năm 2015. 5 Trần Thị Huệ (2013), Trách nhiệm bôi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.
14 xuống đốc thi bị mat phanh, gây tai nạn giao thông). Trong khi hoạt động gay thiệt hại của tai sản khác không đột ngột mà thường có qua trình gây thiệt hại kéo dài (Vi dụ nhà bị cháy thi trước đó đã phải có một quá trình xuất hiện như bị chập điện, nỗ các thiết bị về điện, có lửa bốc lên.) Thứ hai, nguồn nguy hiểm cao độ có tần xuất gây thiệt hại cao hơn với các loại tài sản khác.