Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học: "Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam".

Luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự, được tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích quy phạm pháp luật thực định, nghiên cứu lịch sử lập pháp, luật học so sánh và tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân.

Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu

Trong khoa học luật hình sự, chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) bắt buộc, giữ vai trò chi phối đối với các yếu tố khác. Hành vi nguy hiểm cho xã hội là sự thể hiện ý chí của chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) ra thế giới khách quan; do đó, nếu không có chủ thể thì không thể xác định hành vi phạm tội, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với cá nhân hoặc pháp nhân không phải là chủ thể của tội phạm sẽ vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, đặc biệt là nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc pháp chế.

Trước thời điểm ban hành Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015, khoa học luật hình sự Việt Nam chủ yếu mặc định chủ thể của tội phạm là thể nhân (cá nhân). Vấn đề chủ thể của tội phạm phần lớn chỉ được nghiên cứu ở mức độ cơ bản trong các giáo trình đại học hoặc đề cập mang tính phụ trợ khi phân tích các chế định khác như năng lực trách nhiệm hình sự (NLTNHS), thời hiệu truy cứu TNHS hay miễn TNHS. Việc tiếp cận nghiên cứu chủ yếu theo hướng đơn cực (chỉ dựa trên luật thực định), chưa khai thác đầy đủ phương pháp luận liên ngành khoa học xã hội (xã hội học, tâm lý học, tội phạm học, triết học pháp luật).

Về mặt thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật, các quy định tại BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 bộc lộ nhiều điểm hạn chế về độ tuổi chịu TNHS, dấu hiệu của chủ thể đặc biệt và trách nhiệm hình sự trong đồng phạm. Hàng năm, Tòa án nhân dân các cấp tại Việt Nam thụ lý khoảng 70.000 đến 80.000 vụ án hình sự với hơn 100.000 bị cáo (trong đó có các tội danh như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, tham ô tài sản, nhận hối lộ). Thực tiễn xét xử cho thấy việc nhận thức chưa thống nhất về chủ thể của tội phạm dẫn đến sai lầm trong định tội danh và quyết định hình phạt, tiềm ẩn nguy cơ làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Sự kiện BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) chính thức bổ sung chế định TNHS của pháp nhân thương mại đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện khung lý luận và giải pháp bảo đảm áp dụng thống nhất.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là: Trên cơ sở phân tích làm rõ những vấn đề lý luận, thực trạng quy định và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm, luận án đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án thực hiện 8 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Thu thập, hệ thống hóa và đánh giá các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước về chủ thể của tội phạm, từ đó rút ra những vấn đề cần nghiên cứu trong luận án.
  2. Phân tích khái niệm, các dấu hiệu, sự phân loại, mối quan hệ của chủ thể của tội phạm.
  3. Phân tích sự điều chỉnh của pháp luật đối với vấn đề về chủ thể của tội phạm.
  4. Khái quát quá trình phát triển quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015.
  5. Phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về chủ thể của tội phạm.
  6. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm.
  7. Phân tích làm rõ yêu cầu áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về chủ thể của tội phạm.
  8. Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành về chủ thể của tội phạm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về chủ thể của tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài; các quy định pháp luật hình sự Việt Nam (là chủ yếu) và của một số quốc gia; thực tiễn áp dụng các quy định này tại Tòa án nhân dân ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Về phạm vi thời gian, do BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nên thực tiễn áp dụng chưa nhiều; luận án tập trung phân tích, đánh giá số liệu và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân trong giai đoạn BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành từ năm 2009 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung:

1. Nhóm công trình nghiên cứu lý luận chung, chính sách hình sự và tâm lý học liên quan đến chủ thể của tội phạm

  • Chính sách hình sự và quyền con người: Lê Đình Thể (2006) nghiên cứu áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên; Phạm Văn Lợi (Chủ biên, 2007) phân tích chính sách hình sự thời kỳ đổi mới; Võ Khánh Vinh (Chủ biên, 2011) và Võ Khánh Vinh (2012) khảo sát quyền con người và xã hội học pháp luật; Nguyễn Minh Đoan (2014), Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên, 2015) luận giải lý luận nhà nước, pháp luật và quyền con người; Trịnh Quốc Toản (2015) nghiên cứu hình phạt dưới góc độ bảo vệ quyền con người.
  • Tâm lý học và sự phát triển nhân cách: Lê Văn Cương (Chủ biên, 1999) nghiên cứu tâm lý tội phạm lứa tuổi vị thành niên; Nguyễn Văn Đồng (2012) phân tích tâm lý học phát triển nhằm lý giải nguồn gốc hành vi lệch chuẩn.
  • Giáo trình và tài liệu chuyên khảo: Lê Cảm (Chủ biên, 2007), Hoàng Văn Hùng (Chủ biên, 2008), Phạm Văn Beo (2012), Võ Khánh Vinh (Chủ biên, 2014), Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2016), Lê Cảm (2005) trình bày các yếu tố cấu thành chủ thể tội phạm ở bậc đại học và sau đại học; các luận văn thạc sĩ của Lê Đăng Doanh (1999), Nguyễn Phú Biền (2015).

2. Nhóm công trình nghiên cứu về nhân thân người phạm tội

  • Nguyễn Thị Thanh Thủy (Luận án tiến sĩ, 2005) nghiên cứu toàn diện nhân thân người phạm tội trong luật hình sự Việt Nam.
  • Nguyễn Bích Huyền (Luận văn thạc sĩ, 2015) phân tích mối quan hệ giữa nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố Hà Nội.

3. Nhóm công trình nghiên cứu về năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

  • Tại Việt Nam: Trịnh Tiến Việt (2013) phân tích dấu hiệu y học và tâm lý học của tình trạng không có NLTNHS; Nguyễn Ngọc Hòa (2015) đề xuất thuật ngữ "năng lực lỗi" và phân tích tình trạng năng lực lỗi hạn chế; các luận văn của Trần Thị Hoàng Lan (2012), Nguyễn Đức Hoàng (2015), Thiều Cẩm Sơn (2017); các bài báo của Nguyễn Tuyết Mai (2016), Dương Tuyết Miên (2015), Trần Văn Cường (2016), Vũ Hải Việt và Hà Minh Thảo (2015).
  • Tại nước ngoài: Steven D. Levitt (1998) nghiên cứu tội phạm vị thành niên và hình phạt tại Hoa Kỳ; Kelly Richards phân tích sự khác biệt giữa tội phạm vị thành niên và trưởng thành tại Úc; G. Maher (2004) khảo sát độ tuổi chịu TNHS theo luật Scots; Gregor Urbas phân tích tuổi chịu TNHS tại Úc; các tác phẩm của Wayne R. LaFave, Courtney Stanhope Kenney (1912), O. Xnhegiơnhepxki (1980).

4. Nhóm công trình nghiên cứu về chủ thể đặc biệt của tội phạm

  • Các luận án tiến sĩ của Trần Văn Đạt (2012) về tội phạm tham nhũng, Phạm Thị Huệ (2016) về phòng chống tham nhũng khu vực tư, Lê Thị Hồng Thương (2016) về tội phạm bạo lực gia đình, Nguyễn Ngọc Tính (2017) về tội phạm chức vụ; luận văn của Đoàn Thị Vân (2015), Nguyễn Thị Hiên (2015); bài viết của Trương Thị Hằng, Nguyễn Ngọc Minh (2011); sách chuyên khảo của Nguyễn Tất Viễn (2016) phân loại chủ thể đặc biệt trong nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp thành 3 nhóm.

5. Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của pháp nhân

  • Tại Việt Nam: Đề tài cấp Bộ của Cao Thị Oanh (2011); sách và bài viết của Nguyễn Ngọc Hòa (2015, 2016, 2018), Phạm Hồng Hải (1999), Trịnh Quốc Toản (2006), Bùi Kiên Điện (2000), Phạm Xuân Khoa (2013), Nguyễn Thị Phương Hoa (2016), Lưu Hải Yến (2016); luận văn của Bùi Thị Lan Anh (2015), Phạm Thị Huế (2015).
  • Tại nước ngoài: Henry W. Edgerton (1927), Joel M. Byers, C. Kennedy (1985), Leigh (1969, 1981-1982), Wells (1993), Fisse (1991), Bergman (1992).
  • Luật so sánh và hoàn thiện pháp luật: Hồ Sỹ Sơn (2008, 2018), Lê Cảm (1999), Trịnh Tiến Việt (2012), Đinh Văn Quế (2010), Đào Trí Úc (Chủ biên, 1994), Võ Khánh Vinh (2013), Phạm Văn Động (Chủ biên, 2010).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định

Qua đánh giá tổng quan, luận án chỉ ra 6 khoảng trống:

  1. Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu đơn lẻ từng khía cạnh, thiếu tính hệ thống toàn diện về chủ thể của tội phạm.
  2. Phương pháp tiếp cận chủ yếu thuần túy là luật học thực định, phụ thuộc vào chất lượng điều luật hiện hành mà chưa đi sâu vào khung lý luận bản chất.
  3. Phần lớn nghiên cứu chỉ tập trung vào thể nhân; các khía cạnh lý luận và thực tiễn về pháp nhân thương mại phạm tội chưa được luận giải sâu sắc.
  4. Mối quan hệ phân định giữa "nhân thân người phạm tội" và "chủ thể của tội phạm" chưa được phân tích thỏa đáng và có hệ thống.
  5. Nguyên nhân của những bất cập trong áp dụng quy định về chủ thể chưa được luận giải thấu đáo từ khía cạnh lý luận.
  6. Các nghiên cứu luật so sánh chưa gắn kết chặt chẽ với điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp lý và tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phương pháp luận

  • Phương pháp luận chung: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam về đổi mới, cải cách tư pháp và phòng, chống tội phạm.
  • Cách tiếp cận liên ngành:
    • Tiếp cận đa ngành khoa học xã hội: triết học, xã hội học, tâm lý học, tội phạm học.
    • Tiếp cận đa ngành luật học: xã hội học pháp luật, triết học pháp luật, chính sách pháp luật hình sự.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  1. Phương pháp tổng hợp và thống kê: Thu thập, xử lý và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân loại các nhóm quan điểm khoa học.
  2. Phương pháp phân tích: Làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành, dấu hiệu pháp lý, đặc điểm tâm lý - sinh học của chủ thể cá nhân và cấu trúc pháp lý của pháp nhân thương mại; phân tích các điều luật cụ thể.
  3. Phương pháp lịch sử: Khảo sát quá trình lập pháp hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, làm rõ tính kế thừa và quy luật phát triển của chế định chủ thể tội phạm trước BLHS năm 2015.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật hình sự Việt Nam với quy định của các quốc gia thuộc hệ thống pháp luật khác nhau (như Pháp, Đức, Nga, Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc, Áo, Thụy Sỹ) để rút ra bài học kinh nghiệm.
  5. Phương pháp tổng kết thực tiễn: Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân, nhận diện những vướng mắc, sai sót trong xét xử.
  6. Phương pháp điều tra án hình sự điển hình: Thu thập dữ liệu từ các bản án hình sự cụ thể nhằm chứng minh các kết luận lý luận và thực tiễn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam: Sắc lệnh, Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi 2009), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016, Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH.
  • Các văn bản quốc tế: Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em (1989), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (1985), Quy tắc bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990).
  • Dữ liệu thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân giai đoạn 2009 – 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến chủ thể của tội phạm thành các nhóm vấn đề chuyên sâu. Tác giả đánh giá những thành tựu đã đạt được (làm rõ khái niệm cơ bản, dấu hiệu tuổi, NLTNHS), đồng thời chỉ ra 6 điểm hạn chế trong các công trình đi trước, xác định rõ khoảng trống nghiên cứu và thiết lập cơ sở khoa học để triển khai các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử hình thành, phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm

Chương này tập trung xây dựng khung lý thuyết toàn diện về chủ thể của tội phạm:

1. Khái niệm và điều kiện của chủ thể của tội phạm

  • Khái niệm: Chủ thể của tội phạm là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự.
  • Điều kiện đối với cá nhân: Phải thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu bắt buộc:
    • Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong từng thời kỳ (từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về mọi loại tội phạm).
    • Năng lực trách nhiệm hình sự: Gồm năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển hành vi theo yêu cầu của xã hội. Được xác định dựa trên sự kết hợp giữa hai dấu hiệu: dấu hiệu y học (không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức/điều khiển hành vi) và dấu hiệu tâm lý (khả năng nhận thức và điều khiển hành vi).

2. Phân loại chủ thể của tội phạm

Tiêu chí phân loại Phân loại cụ thể Đặc điểm pháp lý cơ bản
Theo hình thức tham gia tội phạm Chủ thể phạm tội độc lập Một người đơn thuần tự mình thực hiện hành vi phạm tội có lỗi, thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm.
Chủ thể trong đồng phạm Nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm, mỗi người đều đáp ứng các dấu hiệu của chủ thể.
Theo bản chất chủ thể Cá nhân (thể nhân) Con người cụ thể, có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không quốc tịch. Chia thành: (1) Người dưới 18 tuổi (từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi); (2) Người thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên); (3) Chủ thể đặc biệt (ngoài dấu hiệu chung phải có dấu hiệu riêng về chức vụ, quyền hạn, quan hệ gia đình, nghĩa vụ...).
Pháp nhân Theo BLHS năm 2015, giới hạn phạm vi chủ thể tổ chức là pháp nhân thương mại (khác với một số quốc gia quy định mọi pháp nhân hoặc tổ chức kinh tế).

3. Mối quan hệ giữa chủ thể của tội phạm với các phạm trù liên quan

  • Chủ thể của tội phạm với Chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự: Quan hệ pháp luật hình sự phát sinh giữa Nhà nước (chủ thể bảo vệ pháp luật, thực thi quyền lực công) và người/pháp nhân phạm tội (chủ thể chấp hành cưỡng chế và được bảo đảm quyền hợp pháp). Chủ thể của tội phạm là một bộ phận, một yếu tố cấu thành độc lập trong quan hệ pháp luật hình sự.
  • Chủ thể của tội phạm với Người thực hiện hành vi loại trừ trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi trong các trường hợp loại trừ TNHS (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, gây thiệt hại khi bắt giữ tội phạm...) có thể thỏa mãn dấu hiệu tuổi và NLTNHS nhưng hành vi của họ không bị coi là tội phạm vì thiếu tính chất có lỗi, không trái pháp luật hình sự và được xã hội chấp nhận.
  • Chủ thể của tội phạm với Nhân thân người phạm tội:
    • Chủ thể của tội phạm là yếu tố cấu thành tội phạm bắt buộc, là căn cứ pháp lý để định tội danh và truy cứu TNHS.
    • Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm xã hội, tâm lý, sinh học có ý nghĩa xã hội của người phạm tội (hoàn cảnh gia đình, thái độ chính trị, trình độ văn hóa, tiền án, tiền sự...), giữ vai trò là căn cứ để cá thể hóa hình phạt, quyết định hình phạt, miễn giảm TNHS hoặc áp dụng án treo.
  • Lịch sử hình thành và phát triển: Khảo sát quá trình lập pháp hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 qua các văn bản đơn lẻ, BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999, làm rõ tính kế thừa và sự phát triển tư duy lập pháp trước khi ban hành BLHS năm 2015.

Chương 3: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về chủ thể của tội phạm và thực tiễn áp dụng

  • Phân tích thực trạng quy định: Đánh giá các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về chủ thể là cá nhân (độ tuổi, NLTNHS, quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội) và điểm mới về chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng (2009 - 2018):
    • Phân tích số liệu giải quyết các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân trong giai đoạn thi hành BLHS 1999 (trung bình 70.000 - 80.000 vụ/năm với hơn 100.000 bị cáo).
    • Chỉ ra các vướng mắc, sai phạm thực tế trong việc xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội, xác định năng lực trách nhiệm hình sự đối với người bị rối loạn tâm thần, xác định các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt trong các tội phạm chức vụ, tham nhũng, và phân hóa vai trò của các chủ thể trong đồng phạm.
    • Làm rõ nguyên nhân: nhận thức lý luận chưa thống nhất, quy định của luật còn có điểm chưa rõ ràng, kỹ năng điều tra và giám định pháp y tâm thần còn hạn chế.

Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của Bộ luật hình sự về chủ thể của tội phạm

  • Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng: Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN; bảo đảm tính nhân đạo và công bằng; bảo đảm cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự; tránh bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    1. Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự: Sửa đổi, bổ sung các điều luật liên quan đến độ tuổi chịu TNHS, tiêu chí xác định năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế; cụ thể hóa các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt và cơ chế xác định lỗi của pháp nhân thương mại.
    2. Giải pháp từ phía cơ quan tiến hành tố tụng: Nâng cao năng lực chuyên môn, nhận thức lý luận cho Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Điều tra viên; hoàn thiện quy trình giám định tâm thần và xác định tuổi trong tố tụng hình sự.
    3. Hướng dẫn áp dụng pháp luật: Ban hành các nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát triển án lệ liên quan đến xác định chủ thể tội phạm và TNHS của pháp nhân thương mại.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học

Theo công bố của tác giả, luận án có ba đóng góp mới chính:

  1. Bổ sung nội dung về sự điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề chủ thể của tội phạm, góp phần hoàn thiện khung lý luận về chủ thể của tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
  2. Khẳng định vị trí, vai trò và giá trị của cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội (triết học, xã hội học, tâm lý học, tội phạm học) và liên ngành luật học trong việc nghiên cứu chủ thể của tội phạm.
  3. Xây dựng cơ sở khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm áp dụng thống nhất trong thực tiễn tư pháp.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

  • Ý nghĩa lý luận: Góp phần làm sâu sắc và chuẩn hóa hệ thống tri thức về chủ thể của tội phạm; làm rõ sự phân định giữa chủ thể của tội phạm với nhân thân người phạm tội, chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự và các trường hợp loại trừ TNHS; mở ra định hướng tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu luật hình sự.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp luận cứ phục vụ công tác xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật hình sự; hỗ trợ các cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh chính xác, cá thể hóa hình phạt phù hợp; làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập pháp luật hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mới chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, nguồn dữ liệu thực tiễn xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại thời điểm thực hiện luận án còn hạn chế.
  • Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật chủ yếu tập trung vào giai đoạn Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực (từ năm 2009 đến năm 2018) với chủ thể phạm tội là thể nhân.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi, tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với các vụ án hình sự có pháp nhân thương mại phạm tội theo BLHS năm 2015.
  • Mở rộng nghiên cứu khả năng mở rộng phạm vi chủ thể của tội phạm đối với các loại hình tổ chức khác không phải pháp nhân thương mại trong tương lai, dựa trên kinh nghiệm quốc tế và bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và nghiên cứu chính sách: Tham khảo luận cứ khoa học để tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự về người dưới 18 tuổi phạm tội, dấu hiệu chủ thể đặc biệt và chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư): Vận dụng các tiêu chí phân định chủ thể tội phạm và nhân thân người phạm tội để định tội danh chính xác, tránh oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
  • Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu cho nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định sự khác nhau giữa "chủ thể của tội phạm" và "nhân thân người phạm tội" như thế nào?

Luận án chỉ rõ hai khái niệm này thực hiện các chức năng khác nhau trong luật hình sự:

  • Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm bắt buộc, chỉ bao gồm các dấu hiệu pháp lý bắt buộc (độ tuổi, NLTNHS, dấu hiệu đặc biệt) nhằm xác định điều kiện truy cứu TNHS và định tội danh.
  • Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc điểm xã hội, tâm lý, sinh học có ý nghĩa xã hội của con người phạm tội (hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, quá trình công tác, tiền án, tiền sự...), đóng vai trò là căn cứ để cá thể hóa hình phạt, quyết định mức phạt, xem xét miễn giảm TNHS hoặc áp dụng án treo.

2. Một cá nhân phải thỏa mãn các điều kiện bắt buộc nào để trở thành chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam?

Cá nhân phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện bắt buộc:

  1. Đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định: Người từ đủ 16 tuổi trở lên chịu TNHS về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
  2. Có năng lực trách nhiệm hình sự: Thỏa mãn cả dấu hiệu y học (không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi) và dấu hiệu tâm lý (có khả năng nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi và điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội). Đối với một số tội phạm cụ thể, chủ thể còn phải đáp ứng các dấu hiệu của chủ thể đặc biệt (chức vụ, quyền hạn, quan hệ gia đình...).

3. Quy định về chủ thể của tội phạm là tổ chức trong BLHS năm 2015 của Việt Nam có điểm gì khác biệt so với pháp luật một số nước?

Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới quy định phạm vi chủ thể tổ chức rộng hơn (Pháp quy định các pháp nhân trừ Nhà nước; Áo quy định pháp nhân, công ty hợp danh, hiệp hội kinh tế; Thụy Sỹ quy định pháp nhân công và tư, doanh nghiệp tư nhân; Trung Quốc quy định công ty, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể), Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận TNHS của tổ chức nhưng giới hạn phạm vi chỉ áp dụng đối với pháp nhân thương mại.

4. Luận án sử dụng phạm vi thời gian và nguồn dữ liệu thực tiễn nào để đánh giá thực trạng xét xử?

Luận án tập trung đánh giá thực tiễn xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2009 đến năm 2018), thời kỳ BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành, dựa trên số liệu thụ lý trung bình hàng năm từ 70.000 đến 80.000 vụ án hình sự với hơn 100.000 bị cáo, kết hợp khảo sát các bản án hình sự điển hình về các tội giết người, cướp tài sản, xâm phạm tình dục, tham ô và nhận hối lộ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam" đã giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản về chủ thể của tội phạm thông qua việc kết hợp phương pháp luận Mác - Lênin với cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và luật học. Bằng việc phân tích sâu sắc các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân giai đoạn 2009 – 2018, công trình đã làm rõ các vướng mắc trong xác định độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự, chủ thể đặc biệt và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và bảo đảm áp dụng thống nhất, chính xác trong thực tiễn tư pháp tại Việt Nam.