Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Kạn 1. Về điều kiện tự nhiên - Về vị trí địa lý: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc của nước ta, nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bộ Việt Nam. Nơi đây cũng nằm ở thềm cao giữa trung tâm căn cứ địa Việt Bắc.
Bắc Kạn có diện tích 4. Phía Bắc giáp với các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; Phía Tây giáp các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay, Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính bao gồm Thành phố Bắc Kạn và 7 huyện. Giao thông, trao đổi hàng hóa từ Bắc Kạn đến các tỉnh lân cận là khá thuận tiện.
Quốc lộ 3 nối từ Hà Nội đến cửa khẩu Tà Lùng (Cao Bằng) hiện đã được cải tạo, nâng cấp. Đặc biệt, tuyến đường mới Thái Nguyên - Chợ Mới đã đưa vào sử dụng tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và thông thương hàng hóa. - Về đặc điểm địa hình Địa hình Bắc Kạn bị chi phối bởi những dãy núi cánh cung lồi về phía Đông, bao gồm những “nếp lồi” và “nếp lõm” xen kẽ nhau. Bắc Kạn có địa hình núi cao, cao hơn các tỉnh xung quanh và bị chi phối bởi các mạch núi cánh cung kéo dài từ Bắc đến Nam ở hai phía Tây và Đông của tỉnh.
Trong đó, cánh cung Ngân Sơn là cánh cung đóng vai trò quan trọng trong địa hình của tỉnh, đồng thời là ranh giới khí hậu quan trọng. Dãy núi này có nhiều đỉnh núi cao… Cánh cung sông Gâm kéo dài dọc theo phía Tây của tỉnh. 9 - Về khí hậu Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á. Ở vị trí này, Bắc Kạn có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt thời tiết lạnh về mùa đông khi gió mùa đông bắc về mạnh, gây sương muối, sương giá, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân nơi đây, cây trồng và gia súc bị chết do rét.
Mùa hạn xuất hiện mưa lớn kéo dài gây lũ lụt, sạt lở đất. Mùa xuân, mùa thu, là hai mùa ngắn, chuyển tiếp thất thường nên xuất hiện những cơn giông, mưa đá do gió mùa đông bắc gây nên. Bởi vậy,cuộc sống của người dân nơi đây vẫn còn gặp nhiều khó khăn. - Về sông ngòi Mạng lưới sông ngòi Bắc Kạn tương đối phong phú nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn với đặc điểm chung là ngắn, dốc, thủy chế thất thường.
Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn của vùng Đông Bắc là sông Lô, sông Gâm, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu. Sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương. Ngoài hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn còn nổi tiếng với hồ Ba Bể. Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta, được hình thành từ một vùng đá vôi bị sụt xuống do nước chảy ngầm đã đục rỗng lòng khối núi.
Hồ Ba Bể đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (năm 1996); xếp hạng là di tích danh thắng Quốc gia đặc biệt (năm 2012). - Về giao thông Mạng lưới giao thông chủ yếu là đường bộ, không có tuyến đường sắt và đường hàng không như nhiều tỉnh khác trong cả nước. Nhưng Bắc Kạn lại có lợi thế là có quốc lộ 3 chạy dọc qua các tỉnh nối liền Bắc Kạn với các địa phương khác trong khu vực. Ngoài ra còn có quốc lộ 279 là tuyến vành đai quan trọng của đất nước.
Đây cũng là điều kiện thuận lợi để Bắc Kạn thuận lợi trong phát triển kinh tế-xã hội. Về điều kiện kinh tế-xã hội Theo bài viết “Bắc Kạn giàu tiềm năng phát triển kinh tế” được đăng trên trang website https://backan.vn vào ngày 7/12/2012 chúng tôi thấy rằng, tình hình kinh tế - xã hội của Bắc Kạn đã có chuyển biến tích cực, lạm phát thấp, nền kinh tế phát triển ổn định trên tất cả các lĩnh vực, với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, đồng hành của các doanh nghiệp, doanh nhân trên địa bàn tỉnh [62]. Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của Bắc Kạn đã có chuyển biến tích cực, lạm phát thấp, nền kinh tế phát triển ổn định trên tất cả các lĩnh vực, với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, đồng hành của các doanh nghiệp, doanh nhân trên địa bàn tỉnh. Tổng sản phẩm (GRDP) giai đoạn năm 2011 - 2015, toàn tỉnh tăng 13,5% năm; nhiều Cụm công nghiệp đã và đang đầu tư, thiết kế mời gọi đầu tư xây dựng… bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ ngày một phát triển, nhất là trong lĩnh vực chế biến nông-lâm sản, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân.
Khu vực thương mại, dịch vụ tăng bình quân 18%/năm; Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, điện, nước, giao thông nông thôn, y tế, văn hóa, giáo dục ngày một nâng cao; Chính sách xã hội, chính sách người có công, về lao động việc làm được chú trọng và cải thiện. Để đạt được những thành tựu trên, các cấp các ngành đã tích cực thực hiện các giải pháp đề ra. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội trong thời gian qua của tỉnh đạt kết quả tích cực, đúng hướng. Tuy nhiên, trong thời gian tới do tình hình khó khăn, thách thức chung của cả nước như kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; ngoài những yếu tố mới 11 tạo đột phá trong tăng trưởng thì tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trên địa bàn tỉnh còn chậm.
Cho nên, nhiệm vụ đặt ra cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015-2020, rất nặng nề với nhiều thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen nhau [63]. Giới thiệu sơ lược về dân tộc Tày tại tỉnh Bắc Kạn Tại tỉnh Bắc Kạn dân tộc Tày chiếm 54% dân số, chiếm số lượng đông nhất so với các dân tộc Dao, Mông, Sán Chí, người Kinh…. Dòng họ người Tày ở Bắc Kạn có nhiều nguồn gốc khác nhau. Phần đông là các họ gốc Tày.
Bên cạnh đó còn có thêm các họ gốc từ dân tộc Nùng và Kinh. Người Tày ở Bắc Kạn chiếm số đông là các họ: Nông, Hà, Ma, Hoàng. Ít có dòng họ nào cư trú riêng biệt tại một vùng, Họ sống gắn bó, đoàn kết với nhau, hầu như không có sự xung đột về dòng họ, ngay trong một bản cũng thường có ít nhất 2 - 3 họ cùng cư trú. Theo bài viết Các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đăng tại trang http://bandantoc.vn thì người Tày tỉnh Bắc Kạn trong một họ thường được cố kết theo nhánh, chi.
Không có tục làm giỗ tổ, thờ mộ tổ, cũng không có những quy định về thành viên cùng họ như người Thái. Mồ mả tổ tiên đã phân về nhánh nào, chi nào thì nhánh đó, chi đó thờ cúng và gìn giữ. Ngày kỵ từng người đã mất chỉ còn liên quan đến gia đình giữ mả.Thông thường trong một chi, một nhánh chỉ cố kết đến đời thứ 3. Mỗi dịp gia đình có việc hệ trọng thì đều tìm đến anh em từ đời thứ ba đổ lại.
Từ đời thứ 4 trở đi sẽ phai nhạt dần. Tuy nhiên, các gia đình vừa là anh em, vừa là hàng xóm thì sự cố kết sẽ bền lâu, mặc dù huyết thống đã trải qua nhiều thế hệ và họ vẫn xưng hô như anh em gần. Giống với người Kinh, tổ chức dòng họ của người Tày cũng theo thứ bậc, còn người Nùng thì ai sinh trước thì là anh chị, ai sinh sau là em [66]. Hiện nay, cuộc sống của người Tày tại Bắc Kạn đã có những thay đổi trong đời sống kinh tế, và họ vẫn giữ được những nét phong tục độc đáo, tín ngưỡng tôn giáo của Tày.
Đời sống kinh tế Cũng giống như người Tày ở các tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên… người Tày ở Bắc Kạn sống chủ yếu bằng nghề nông. Nền nông nghiệp Tày đã phát triển tương đối cao. Ngoài lúa nước là cây lương thực chính, đồng bào còn trồng thêm ngô, khoai, sắn và các loại cây thực phẩm khác và thuốc lá trên những nương định canh. Đặc biệt, những năm gần đây cây ăn quả phát triển mạnh như cam quýt, hồng không hạt…là nguồn thu nhập quan trọng của đồng bào Tày.
Người Tày ở Bắc Kạn vẫn sống theo lối tự cung tự cấp. Họ trồng bông dệt vải và nuôi tằm để đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hằng ngày của từng gia đình. Ngoài ra, họ cũng biết cách giao thương, buôn bán các sản phẩm, dụng cụ mà tự tay họ làm ra bán tại các chợ của địa phương. Họ thường trao đổi hàng hóa vào các dịp chợ phiên và ngày nay chợ phiên vẫn tồn tại ở tất cả các huyện của tỉnh Bắc Kạn, trừ thành phố Bắc Kạn.
Ngoài ra, đồng bào còn chăn nuôi gia súc, gia cầm như trâu, bò, heo, gà, dê trở thành nguồn thu nhập phụ có giá trị kinh tế cao.Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có rất nhiều huyện phát triển thành mô hình trang trại với quy mô rộng như huyện Ngân Sơn, huyện Chợ Đồn, huyện Bạch Thông Các nghề thủ công gia đình như đan lát đồ dùng gia đình bằng mây, tre, lá; rèn công cụ, đã đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa phương. Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành từng bản. Một bản thường chia thành theo thung lũng nhỏ hoặc ven một con suối, con sông. Mỗi bản có từ hai mươi đến một trăm nóc nhà.
Tên làng bản cũng rất đặc biệt, có khi là Nà Kéo, Nà Tha, Nà Rầy… Họ dùng từ “Nà” (Ruộng) đặt luôn cho bản của mình. Họ thường gọi bản bên một cách thương mến là Bản nưa, Bản tẩư. Nhiều bản hợp lại thành một mường tương đương với một xã. Bản của người Tày được xây dựng ở những chân núi hoặc những nơi đất đai bằng phẳng ven sông, suối, trên các cánh đồng.
Tính cộng đồng của bản 13 xưa kia đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống, đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống của dân tộc Tày.