đặt vấn đề là chính do những ham muốn, dục vọng và những hành động của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người nhằm thoả mãn những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây những hậu quả, gieo đau khổ cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là nghiệp báo Karma. Do vậy linh hồn bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra và trở về đồng nhất với chân bản của nó được. Muốn giải thoát linh hồn bất tử khỏi sự chi phối của đời sống nhục dục, của thế giới hiện tượng cảm tính như ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất với "tinh thần vũ trụ tối cao", con người phải tu luyện hành động karma- yoga và tu luyện tri thức jana- yoga, nhận ra chân bản của mình. Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên của thế giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ sở cho những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ sở lý luận cho đạo Bàlamôn ở Ấn Độ cổ đại.
Kinh Upanishad đã đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), Thuyết luân hồi, nghiệp, nhân quả v. Sau thời kỳ Vêda, các vấn đề triết học dần dần xuất hiện và ngày càng trở nên rõ ràng và khoa học hơn. Sự kiện này nói lên rằng khái niệm về tự ngã của các hiện hữu ngày càng được nhấn mạnh. Từ vấn đề triết lý đặt ra từ thời kỳ đầu Vêda rằng: bằng cách nào ta hợp nhất thiên nhiên với thượng đế? Đến vấn đề triết lý do các đạo sư Bàlamôn về sau đặt ra: ta là ai? Các câu trả lời cho câu hỏi “ta là ai?” biến đổi dần: từ con người vật lý đến con người sinh lý, rồi đến con người tâm lý, siêu hình, và sau hết là con người tâm linh.
Nhưng về sau, đạo Balamôn quay sang miên man suy ngĩ về “cái tôi” (ngôi thứ nhất), về cái tự ngã của sự vật như là thực thể. Tóm lại, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm trong thánh kinh Vêđa, kinh Upanishad và đạo Bàlamôn đã trở thành hệ tư tưởng thống trị đời sống tinh thần của Ấn Độ cổ. Uy thế của nó mạnh mẽ tới mức, tư tưởng triết lý duy tâm ấy được mệnh danh là tư tưởng chính thống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của ấn Độ cổ và tất cả những môn phái triết học vô thần, duy vật, chống lại uy thế của kinh Vêđa và triết lý tôn giáo Bàlamôn đều bị coi là những tư tưởng triết học không chính thống. Sự thống trị khắc nghiệt về xã hội, chính trị, tư tưởng trên đã làm nảy sinh những mâu thuẫn sâu sắc trong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng xã hội.
Đây chính là những nhu cầu của hiện thực lịch sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởng mới ở Ấn Độ trong thời kỳ này. Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnh lịch sử trên với tư cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, chống giáo lý duy tâm hoang đường của Bàlamôn giáo, bác bỏ uy quyền thần thánh và phương pháp tu hành khổ hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người. Nó là sự khẳng định một đạo lý, một đường hướng cứu khổ mới cho con người. Theo các sử liệu ghi lại, người sáng lập ra Phật giáo là Thích-ca-mâu-ni, có tên thật là Siddhartha (Tất-đạt-đa), họ là Gautama (Gô-ta-ma), thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Kapilavastu (Catylavê) ở phía Bắc Ấn Độ.
Phật Thích Ca sinh năm 563 (trước Công Nguyên), (nhưng theo tài liệu của Hội nghị Phật giáo Thế giới họp tại Tokyo năm 1952 lại cho rằng ông sinh năm 624 trước Tây lịch). Năm 29 tuổi ông đã quyết định từ bỏ cuộc sống vương giả để đi tu. Sau mười một năm tu luyện ông đã ngộ đạo và tìm ra con đường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đè nặng trong đời sống xã hội Ấn Độ cổ đại. Sau khi tìm ra con đường giải thoát, ông truyền bá những tư tưởng của mình cho chúng sinh ở Ấn Độ (phụ lục 2) và tìm các đệ tử lập ra các đoàn thể Phật giáo.
Ông mất năm 80 tuổi (năm 544 trước Công nguyên). Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn. Pãncanikàya là từ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ chỉ kinh tạng Pàli thuộc Tam tạng của Thượng tọa bộ (Theravada), thuộc hệ văn học Pàli từ thời đức Phật đến thời đại Đại đế A- Dục. Theo Pàli hệ, "Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: Luật tạng, Kinh tạng, Luận tạng.
Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi những lời dạy của đức Phật Thích Ca trong 40 năm giáo hóa. Kinh tạng gồm năm bộ kinh còn gọi là Ngũ bộ Nikàya: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ. Tạng Luật (Vinaya pitaka, gồm các giới luật của đạo Phật,chứa đựng các luật lệ và giới luật của Tăng già Phật giáo như là các điều lệ thu nhận vào đoàn thể Tăng già, về việc phát lồ các tội, về an cư kiết hạ, về chỗ ở, y cà sa, thuốc men và các sinh hoạt của Tăng già. Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả, về sau này là phần diễn giải bổ sung vào Kinh tạng, có các bộ Dhammasangani, Vibhanga, Kàtthàvatthu, Puggalapannatti, Dhàtukathà, Yamaka, Patthàna.
Các bộ này do chư vị đệ tử của đức Phật vào thời kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ ba, dưới triều đại đế A – Dục, sáng tác vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch kỷ nguyên. Như vậy, Ấn Độ là nơi sinh ra Phật giáo và Phật giáo là sản phẩm trực tiếp của xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt. Cho nên ngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp ở Ấn Độ, những người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt. Chính vì vậy, tư tưởng chính trong kinh Pàli của Phật giáo đã quan tâm đến vấn đề nhân sinh: quan niệm về con người và cuộc đời con người, vấn đề sướng, khổ, vấn đề giải thoát.
Khát quát tƣ tƣởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo 1. Quan niệm về con người Đạo Phật ra đời khi mà xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn minh phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế. Vì vậy, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để cho triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần của đạo Bàlamôn, Đức Phật đã xây dựng thuyết nhân duyên sinh làm nền tảng cho học thuyết của mình Kinh Phật nói rằng: "Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh". Với thuyết nhân duyên sinh, Phật muốn nói lên một định lý: mọi sự vật, vạn pháp trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành; sự vật, vạn pháp sẽ biến diệt khi nhân duyên tan rã.
Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành, biến đổi. Không có gì là không có nguyên nhân. Duyên là những quan hệ, những điều kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởi hiện hành. Tất cả các hiện tượng đều nương nhau mà thành lập - Nói nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau mà thành.
Tất cả mọi hiện tượng đều có quan hệ mật thiết với nhau, không một hiện tượng nào được thành lập, ngoài sự nương vào nhau, ngoài sự liên hệ trực tiếp với nhau. Đó là nhân duyên. Nói về thuyết nhân duyên, trong kinh "Phật Tự Thuyết" (thuộc kinh Tiểu bộ, tập 1) đã có câu: “Nhược thử hữu, tắc bỉ hữu, Nhược thử sinh, tắc bỉ sinh, Nhược thử vô, tắc bỉ vô, Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt”.[16, 129] Nghĩa là: “Cái này có thì cái kia có, Cái này sinh thì cái kia sinh, Cái này không thì cái kia không, Cái này diệt thì cái kia diệt” [9, 95] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tất cả các pháp đều sinh diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập và trường tồn, nhất thành bất biến. Trong Kinh "Thủ Lăng Nghiêm "có đoạn viết: Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt.
Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt. Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt. Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết: “Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân duyên cố diệt". Nghĩa là: Hết thảy mọi pháp, Đều không có tự tính, Vì nhân duyên mà sinh, Vì nhân duyên mà diệt.
Ở một chương khác Phật lại nói: “Tòng duyên sinh cố, Danh chi vi hữu, Vô tự tính cố, Danh chi vi vô” [9, 96] Có nghĩa là: Tùy theo duyên mà hiện ra hình như có sinh, cho nên gọi là "có"; bởi không có tự tính, cho nên gọi là "không". Sự vật chỉ "có" một cách giả tạo, một cách vô thường, nhân duyên, mọi yếu tố hợp lại đầy đủ thì sự vật là "có", nhân duyên tan rã, các yếu tố khộng hợp lại được thì sự vật là "không". Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân và trùng trùng duyên khởi. Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hòa hợp chúng hiện hữu một cách giả hợp.
Bởi thế tìm kiếm đến cùng không thấy 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vạn pháp có "thủy" (nơi bắt dầu ) và xét đến muôn đời, muôn kiếp về sau cũng không thấy vạn pháp có "chung" (nơi kết thúc). Thuyết nhân duyên sinh cho chúng ta thấy chỉ có nhân và có duyên chứ không thực có sự vật. Tất cả những pháp có mặt trên cuộc đời, thế gian này từ thế giới của sự vật, hiện tượng cho đến thế giới bí ẩn của ý niệm sâu xa đều do các nhân, các duyên tương tác lẫn nhau mà hình thành: do cái này có mà cái kia mới có.