mở đầu thời kì lịch sử thế giới cận đại [43, tr. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kỳ cận đại được thể hiện khá rõ nét trong tư tưởng của các nhà tư tưởng ở các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ. Tư tưởng nhà nước pháp quyền ở Anh 1. Tư tưởng nhà nước pháp quyền của T.
Hobbes xây dựng học thuyết chính trị của mình xuất phát từ việc xem xét bản tính con ngươi. Ông khẳng định: trong trạng thái tự nhiên con người tự do và bình đẳng. Con người có nhu cầu được bảo vệ và sống trong trạng thái hòa bình, đó là cơ sở để khẳng định quyền tự nhiên của con người. Con người sinh ra vốn tự do và về bản tính con người là độc ác vì ban đầu ai cũng có nhu cầu, ước vọng dẫn tới tự do của người này xâm phạm tự do của người khác nên đẩy họ tới việc thực hiện điều ác.
Ai cũng muốn thể hiện khát vọng và nhu cầu của mình, nhưng lại không muốn chia sẻ lợi ích của mình với người khác nên họ có thể vì quyền lợi của mình mà chà đạp lên quyền lợi người khác. Ông nhận ra rằng, sự thèm muốn quyền lực là phổ biến ở hầu như mọi người. Con người luôn muốn thỏa mãn lợi ích cá nhân của mình hơn là lợi ích của xã hội. Do đó bản tính con người theo ông là ích kỷ, khi tính ích kỷ đó của con người phát triển mà không có sự kiểm soát thì đẩy họ vào tình trạng chiến tranh hỗn loạn, làm cho luật tự nhiên bị phá vỡ.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ bản tính của con người và từ chính cuộc đấu tranh của con người, để bảo vệ tính mạng và cuộc sống của mình, con người thỏa thuận với nhau kí kết khế ước xã hội về việc thành lập nhà nước. Khế ước xã hội đã đưa xã hội chuyển từ giai đoạn tự nhiên sang giai đoạn xã hội công dân (trạng thái có nhà nước). Nhà nước là sự thỏa thuận chung theo khế ước do bản thân nhân dân sáng tạo ra. Nhà nước - con quái vật khổng lồ Levianthan nắm trọn quyền lực tối cao có được từ sự chuyển nhượng quyền của nhân dân.
Nhân dân nhượng lại một phần quyền tự do của mình và nhà nước sẽ làm giảm những khát vọng tự nhiên thái quá của con người nhằm đưa đến một xã hội ổn định. Xuất phát từ việc xem xét bản tính tự nhiên của con người, những quan điểm của Hobbes về quyền tự nhiên của con người, về xã hội công dân, khế ước xã hội là một đòn giáng mạnh mẽ vào các lý thuyết thần thánh hóa nhà nước. Quan điểm của ông về quyền tự nhiên có ảnh hưởng đến tư tưởng chủ quyền nhân dân, khế ước xã hội, tư tưởng về nhà nước và pháp luật của các nhà tư tưởng Tây Âu thời kì cận đại. Ông cũng là một trong những người đầu tiên đề cập đến tư tưởng về chủ quyền nhân dân.
Ông cho rằng, một khi nhà nước không đảm bảo được an ninh cho công dân - nguyên nhân duy nhất cho sự tồn tại của nó thì người dân có quyền tách ra khỏi sự ràng buộc bởi khế ước xã hội, giành lại quyền tự nhiên cho mình, đó chính là sự giành lại chủ quyền của mình. Để được bảo vệ, người dân có quyền tìm kiếm một hinh thức nhà nước khác có khả năng đáp ứng độ tin cậy của họ. Quan điểm của Hobbes về nhà nước và pháp luật, về vai trò quyền lực nhà nước, về khế ước xã hội, về quyền công dân… được các nhà tư tưởng thời kì sau kế thừa, phát triển, hoàn thiện. Tư tưởng nhà nước pháp quyền của John Locke (1632 – 1704) Hobbes chủ trương tập trung quyền lực tối cao và không có sự phân quyền của nhà nước.
Với mong muốn một xã hội tốt đẹp, trong đó các quyền tự nhiên của con người được đảm bảo, người dân tránh được sự lộng quyền 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nhà nước nên John Locke đưa ra tư tưởng cần phải giới hạn quyền lực nhà nước. Việc ông đưa ra quan điểm giới hạn quyền lực nhà nước nhằm phản ánh một thực tế là xã hội thực sự đang đứng trước nhu cầu bức thiết phải xóa bỏ quyền lực chuyên chế để đi đến xây dựng một quyền lực chính trị mới mang tính dân chủ và đảm bảo tốt hơn những quyền lợi chính đáng của người dân. Quan điểm cần phải giới hạn quyền lực nhà nước là một đòi hỏi khách quan và phù hợp với sự phát triển của xã hội đương thời lúc bấy giờ. Về mặt lịch sử, đây là sự phát triển tất yếu, chống lại sự chuyên chế của các nhà nước cực quyền, xây dựng một quyền lực nhà nước mới, có sự kiểm soát.
Giới hạn quyền lực nhà nước cũng tức là nhà nước bị chế ước quyền lực, khi đó quyền lực của nhà nước không còn vô hạn định, mà nhà nước chỉ có quyền lực trong một phạm vi nhất định được quy định rõ ràng trong luật. Cơ sở cho việc cần phải giới hạn quyền lực nhà nước không chỉ nằm ở chỗ chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước mà còn ở chỗ chống lại sự tùy tiện của nhà nước thông qua hành vi của các quan chức thay mặt nhà nước đảm trách các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Không khẳng định một cách cực đoan như Hobbes rằng tính người là ác nhưng Locke cũng nhận thấy một thực tế là con người có lòng tham quyền lực bởi vì khi có quyền lực con người dễ có khả năng buộc người khác phải làm theo những ý muốn đam mê của mình, con người cũng có lúc vì lợi ích cá nhân mà hành động gây tổn hại đến lợi ích của người khác. Vì vậy, theo Locke nếu quyền lực nhà nước không bị hạn chế, không bị kiểm soát thì hậu quả rõ ràng nhất là sự vi phạm các quyền và tự do của con người.
Do vậy, mục đích của việc giới hạn quyền lực nhà nước theo Locke là nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân, quyền con người. Quyền lực nhà nước từ chỗ vô hạn trong chế độ chuyên chế nay được giới hạn lại và mọi hoạt động của nhà nước cũng như các quan chức trong bộ máy nhà nước đều phải 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuân theo các quy định của luật pháp. Sở dĩ, ông đưa ra lý thuyết này bởi ông đứng trên quan điểm chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân chính là người lập ra nhà nước và cũng ấn định rằng mọi hoạt động của nhà nước đều phải hướng đến mục đích cao nhất là đảm bảo quyền lợi của người dân sống trong đó.
Nhưng người dân không có khả năng và điều kiện giải quyết mọi vấn đề của nhà nước nên buộc phải ủy thác cho những người đại diện tham dự vào bộ máy nhà nước thay mặt cho họ giải quyết các tranh chấp, cũng như đảm bảo sự an toàn cho tính mạng, tài sản và tự do cho người dân. Do vậy, người được ủy thác đại diện cho người dân phải chịu sự chế ước từ người ủy thác – tức nhân dân. Khi những người ủy thác hành động không đúng với mục đích ban đầu được giao thì người dân có quyền phế truất họ và lựa chọn những người đại diện khác xứng đáng hơn. Theo Locke, muốn giới hạn quyền lực nhà nước thì nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền.
Mọi thiết chế quyền lực nhà nước phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Ông cho rằng, cần phải vạch ra giới hạn quyền lực nhà nước và quyền tự do của công dân với phương châm: đối với người dân thì cho phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn đối với cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định. Pháp luật của nhà nước phải hướng đến mục tiêu vì con người, vì quyền con người. Đây chính là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất nhằm giới hạn quyền lực của nhà nước.
Có thể thấy rằng, toàn bộ lý luận phân quyền của Locke đều hướng đến mục đích giới hạn, hạn chế sự tham lam quyền lực, bằng cách tước bỏ những điều kiện hiện thực về mặt nhà nước khả dĩ cho phép sự tham quyền này có cơ sở phát triển. Trước Locke, T. Hobbes từng mô tả nhà nước như một con quái vật khổng lồ nắm trọn mọi quyền lực tối cao và bất khả chiến bại. Hơn thế nữa, Hobbes còn quan niệm rằng, nhân dân chuyển giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước và bởi vậy, quyền lực nhà nước là tuyệt đối và bất khả phân chia.
Khác 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với Hobbes, Locke cho rằng, quyền lực nhà nước không thể tập trung trong tay một người mà người phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên minh, liên kết. Trong ba quyền đó thì quyền lập pháp là quyền lực tối cao, các quyền lực kia phải xuất phát từ quyền lập pháp và phụ thuộc vào quyền lập pháp. Có thể nói, quan điểm phân quyền là một cống hiến to lớn của J. Locke đối với lý luận về nhà nước pháp quyền.
Để đảm bảo các quyền và tự do của con người, nhà nước đã ra đời trên cơ sở thỏa thuận chung của mọi công dân và luật pháp là cơ sở pháp lý cụ thể để đảm bảo các quyền đó. Tuy nhiên, Locke cũng đã nhìn thấy xu hướng phát triển của nhà nước. Đó là sau khi được nhân dân dựng lên, đại diện cho nhân dân giải quyết các vấn đề xã hội, ngoại giao và đảm bảo các quyền cơ bản của con người nhưng dần dần, nhà nước “bị tha hóa”. Nhà nước với những công cụ quyền lực trong tay đã quay trở lại đàn áp nhân dân, làm cho “nhân dân bị khiến cho cùng khổ”.
Và khi nhân dân “nhận thấy họ đang phải phô bày mình ra cho sự ngược đãi của quyền lực độc đoán” [24, tr. 188] thì khi đó, nhân dân có quyền giải thể chính quyền, lật đổ nhà nước đó và thay thế bằng một chính quyền mới cách mạng hơn, “có thể đảm bảo cho họ những mục đích mà vì đó vào lúc ban đầu chính quyền đã được dựng lên” [25, tr. Tức là nhân dân có quyền dựng lên một chính quyền nhà nước. Song cũng có thể lật đổ một chính quyền, một nhà nước nếu như chính quyền đó đã “bị tha hóa” so với mục đích ra đời ban đầu của nó.