Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học (mã số 62 31 02 04), thuộc ngành Chính trị học, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, do Nguyễn Ngọc Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn của Phùng Hữu Phú và Lại Quốc Khánh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Luận án xác định bối cảnh xuất phát từ hai chiều: chiều quốc tế và chiều trong nước. Ở phạm vi quốc tế, tham nhũng, lãng phí và quan liêu được nhận diện là nguy cơ đối với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, đặc biệt tại các nền kinh tế đang phát triển. Ngày 31/10/2003, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua "Công ước về chống tham nhũng" — văn bản pháp lý quốc tế tạo cơ sở cho hợp tác phòng, chống tham nhũng liên quốc gia. Ở phạm vi trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định "tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp… làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa đến sự ổn định và phát triển đất nước" và chỉ ra tình trạng "suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện 'tự diễn biến', 'tự chuyển hóa' trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức". Hồ Chí Minh từng chỉ rõ cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là "một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu" và gọi các tệ nạn này là "giặc nội xâm".

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu; qua đó khẳng định giá trị lý luận và giá trị thực tiễn, đồng thời gợi mở định hướng giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu ở Việt Nam hiện nay.

Các nhiệm vụ cụ thể gồm:

  • Trình bày một số khái niệm về phòng, chống tham ô, lãng phí và quan liêu
  • Làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu
  • Trình bày quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất, biểu hiện, tác hại của tham ô, lãng phí, quan liêu
  • Làm rõ tính tất yếu, phương hướng, lực lượng và biện pháp phòng, chống theo quan niệm của Hồ Chí Minh
  • Luận chứng những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và gợi mở định hướng, giải pháp cho thực tiễn hiện nay

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, gồm: bản chất, biểu hiện, tác hại, lực lượng và phương pháp phòng, chống; đồng thời là những giá trị của tư tưởng đó và các định hướng giải pháp vận dụng. Phạm vi tư liệu được giới hạn trong bộ Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ 3, năm 2011, và bộ Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử, xuất bản năm 2016. Phạm vi đối tượng áp dụng gắn với tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước

Luận án điểm lại hai nhóm công trình lớn.

Nhóm thứ nhất nghiên cứu về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu nói chung, bao gồm: luận án tiến sĩ Triết học Bệnh quan liêu của bộ máy nhà nước trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: Nguyên nhân và phương hướng khắc phục của Nguyễn Trần Thành (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2000); đề tài cấp bộ Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản (Bộ Công an, 2001); đề tài Tham nhũng và các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay (Ban Nội chính Trung ương, 2003); cuốn Phát huy dân chủ trong đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta hiện nay của Phạm Thành Nam, Đỗ Thị Thạch (NXB Lý luận Chính trị, 2005); Nâng cao hiệu quả của báo chí trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay của Trần Quang Nhiếp (NXB Chính trị Quốc gia, 2005); Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng ở một số nước trên thế giới (Ban Nội chính Trung ương, NXB Chính trị Quốc gia, 2005); Tệ quan liêu, lãng phí và một số giải pháp phòng, chống của Ngụy Văn Thuận, Đào Trí Úc, Lưu Quang Quán (NXB Chính trị Quốc gia, 2006); Đảng Cộng sản Việt Nam với cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí của Đỗ Xuân Tuất, Phạm Quang Hưởng, Nguyễn Ngọc Hân (NXB Lao động, 2006); luận văn thạc sĩ Báo chí trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay của Trần Danh Lân (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007); Phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam và thế giới của Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hòa Bình, Bùi Minh Thanh (NXB Công an nhân dân, 2007); Tài liệu bồi dưỡng về phòng, chống tham nhũng (Viện Khoa học Thanh tra, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2011); Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng, chống tham ô, lãng phí và quan liêu ở nước ta hiện nay của Lê Hồng Liêm, Hà Hữu Đức, Trương Kim Sơn (NXB Chính trị Quốc gia, 2011); luận án tiến sĩ Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay của Vũ Thị Nghĩa (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012); luận án tiến sĩ Luật học Đảm bảo pháp lý về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Vũ Viết Thiệu (Học viện Khoa học Xã hội, 2012); Bàn về giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay của Trương Giang Long (NXB Chính trị Quốc gia, 2013); Phòng chống tham nhũng trong các hoạt động công vụ ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn của Nguyễn Quốc Sửu (NXB Chính trị Quốc gia, 2013); Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp của Trương Thị Thông, Lê Kim Việt (NXB Chính trị Quốc gia, 2014); Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn 30 năm đổi mới (1986 - 2016) về tư pháp - nội chính phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Nguyễn Bá Thanh, Phan Đình Trạc, Vũ Thị Mai (NXB Chính trị Quốc gia, 2016).

Nhóm thứ hai nghiên cứu nội dung và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, gồm: Tư tưởng Hồ Chí Minh với vấn đề chống tham nhũng của Bùi Mạnh Cường (NXB Lao động Xã hội, 2005); Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm chống lãng phí của Vũ Thị Nhài (NXB Tài chính, 2008); Tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu (Ban Tuyên giáo Trung ương, NXB Chính trị Quốc gia, 2008); Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng của Phạm Thị Hải Chuyền (NXB Chính trị Quốc gia, 2010); bài viết "Phát huy dân chủ trong đấu tranh phòng chống tham ô, tham nhũng theo tư tưởng Hồ Chí Minh" của Lý Vĩnh Long (Tạp chí Tuyên giáo, số 9, 2012); bài viết "Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng chống tham nhũng đến cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa XI" của Nguyễn Như Hùng, Trần Mai Ước (Tạp chí Cộng sản điện tử, 2013); bài "Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về chống tham nhũng, lãng phí theo tư tưởng Hồ Chí Minh" của Cao Văn Thống (Tạp chí Cộng sản điện tử, 2013); Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng của Trần Văn Bính, Ngô Ngọc Thắng, Vũ Ngọc Lân (NXB Chính trị Quốc gia, 2015); Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham nhũng của Bùi Mạnh Cường, Nguyễn Thị Tố Uyên (NXB Hồng Đức, 2015); Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác nội chính và phòng chống tham nhũng (Ban Nội chính Trung ương, NXB Chính trị Quốc gia, 2016); bài viết "Phòng chống tham nhũng, lãng phí: Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến hiện tại" của Nguyễn Thế Thắng (Báo Hải quan điện tử, 2017).

Các công trình nước ngoài được điểm lại gồm: Challenging corruption in Asia: Case studies and a framework for action của Vinay Bhargava, Emil Bolongaita (The World Bank, 2004); The many faces of corruption: Tracking vulnerabilities at the sector level của Ed. Edgardo Campos, Sanjay Pradhan (Washington D.C., 2007); The anti-corruption handbook: How to protect your business in the global marketplace của William P. Olsen (John Wiley & Sons, 2010); Corruption from the perspective of citizens, firms, and public officials (National Political Publishing House, 2012); Bribery and corruption: Navigating the global risks của Brian P. Loughman, Richard Sibery (John Wiley & Sons, 2012); Recognizing and reducing corruption risks in land management in Vietnam (National Political, 2013); Corruption and Government: Causes, Consequences, and Reform của Susan Rose-Ackerman, Bonnie J. Palifka (Cambridge University, 2016).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng quan, tác giả xác định chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí và quan liêu như một chỉnh thể lý luận hoàn chỉnh, đặt trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Các công trình trước tiếp cận từ góc độ xây dựng Đảng, Triết học, hoặc Luật học, chưa luận giải đầy đủ về nội hàm, tên gọi, đặc điểm cơ bản của tư tưởng này, cũng chưa luận chứng toàn diện các giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và thực tiễn

Luận án được xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cùng với các xu hướng nghiên cứu khoa học chính trị về công tác này. Cơ sở thực tiễn gồm thực tiễn chỉ đạo của Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tham chiếu kinh nghiệm quốc tế. Ngoài ra, luận án còn sử dụng dự báo xu thế tác động đến công tác phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu ở Việt Nam hiện nay.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thuộc hướng nghiên cứu định tính, sử dụng tổng hợp các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử: phân tích các vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo và thực hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu theo tư tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương pháp lôgíc: khái quát vấn đề lý luận; đánh giá thành tựu, hạn chế; luận chứng các giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: thu thập, phân tích, khai thác thông tin từ các công trình nghiên cứu, báo cáo, số liệu thống kê, các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh; được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án
  • Ngoài ra còn sử dụng: phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, hệ thống - cấu trúc, văn bản học

Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu gốc chủ yếu là bộ Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ 3, 2011) và bộ Hồ Chí Minh, Biên niên tiểu sử (xuất bản 2016), kết hợp với các văn kiện Đảng, luật thực định (Luật phòng, chống tham nhũng 2005 và sửa đổi bổ sung 2012; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013) và các công trình khoa học trong và ngoài nước.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này hệ thống hóa và đánh giá hai nhóm công trình nghiên cứu: nhóm nghiên cứu về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu nói chung (gồm các công trình trong nước từ năm 2000 đến 2016 và các công trình nước ngoài); và nhóm nghiên cứu nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Luận điểm trung tâm là: dù đã có nhiều công trình tiếp cận từ các góc độ chuyên ngành khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu theo đặc thù của chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Chương xác định ba vấn đề luận án cần đi sâu: làm rõ khái niệm và cơ sở hình thành tư tưởng; phân tích nội dung cơ bản một cách có hệ thống; và luận chứng giá trị cùng gợi mở định hướng giải pháp thực tiễn.

Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu — khái niệm và cơ sở hình thành

Chương xây dựng hệ thống khái niệm làm tiền đề lý luận. Về khái niệm tham ô, luận án dẫn định nghĩa từ Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex (NXB Đà Nẵng, 2010) và phân biệt với khái niệm tham nhũng — rộng hơn, được định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam (NXB Công an nhân dân, 2005) và theo Điều 2, Luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi bổ sung năm 2012. Điều 3 của Luật liệt kê 12 hành vi tham nhũng cụ thể. Luận án trích dẫn công thức bản chất tham nhũng: "Tham nhũng = độc quyền + bưng bít thông tin - giải trình trách nhiệm".

Về khái niệm lãng phí, luận án trích khoản 2 Điều 3, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí (Quốc hội khóa XIII, tháng 11/2013) và phân loại lãng phí theo ba cấp độ: lãng phí thông thường (có tính ngẫu nhiên), bệnh lãng phí (có chủ đích, khoa trương), và tệ nạn lãng phí (phổ biến, thường xuyên, gây phương hại đến uy tín Đảng và Nhà nước). Về quan liêu, luận án trích định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt ("thiên về dùng mệnh lệnh, giấy tờ, xa rời thực tế, xa rời quần chúng") và phân tích bản chất ở cấp độ cao là sự tha hóa quyền lực.

Phần quan trọng của chương là xây dựng khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu: "là hệ thống quan điểm lý luận toàn diện và sâu sắc về nguồn gốc, bản chất, tác hại của tham ô, lãng phí và quan liêu; về phương hướng, lực lượng và biện pháp phòng, chống." Luận án chỉ rõ mối quan hệ giữa ba tệ nạn: chúng có chung nguồn gốc là chủ nghĩa cá nhân — Hồ Chí Minh viết "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí"; quan liêu là yếu tố làm phát sinh, nuôi dưỡng tham ô và lãng phí.

Phần cơ sở hình thành phân tích ảnh hưởng của: truyền thống gia đình và quê hương (cụ Nguyễn Sinh Sắc; truyền thống làng Kim Liên với 53 vị khoa bảng từ năm 1635 đến 1890, làng Hoàng Trù có 29 vị khoa bảng); chủ nghĩa yêu nước truyền thống; tư tưởng pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam (Quốc triều hình luật thời Hậu Lê, chế độ hồi tị thời Nguyễn); tinh hoa tư tưởng phương Đông (học thuyết Khổng - Mạnh, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn); và chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chương 3: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu

Đây là chương nội dung trọng tâm của luận án, triển khai theo hai mảng lớn.

Mảng thứ nhất phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất, biểu hiện và tác hại của từng tệ nạn. Về tham ô: xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên được giao quyền lực. Về lãng phí: bao gồm lãng phí tài sản, thời gian, công sức, có thể xảy ra ở tất cả các ngành, lĩnh vực, cấp từ trung ương đến cơ sở, trong mọi loại hình tổ chức và gia đình cá nhân. Về quan liêu: là tha hóa quyền lực, gắn liền với xa rời thực tế và nặng về mệnh lệnh, giấy tờ.

Mảng thứ hai làm rõ quan điểm về tính tất yếu, phương hướng, lực lượng và biện pháp phòng, chống. Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu phải phòng, chống vì các tệ nạn này là "giặc nội xâm", là lực cản trực tiếp của sự nghiệp cách mạng. Phương hướng gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Lực lượng phòng, chống bao gồm toàn bộ hệ thống chính trị: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và nhân dân. Biện pháp phòng, chống được phân tích theo nhiều phương diện bao gồm giáo dục tư tưởng, kiểm tra giám sát, phát huy dân chủ, hoàn thiện pháp luật và nêu gương của người lãnh đạo.

Chương 4: Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh và định hướng giải pháp phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong giai đoạn hiện nay

Chương phân tích ba giá trị lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh: (1) là sự kết tinh, phát triển những tinh hoa giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và nhân loại trong công tác phòng, chống; (2) là một trong những cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chủ trương, đường lối; (3) là yếu tố quan trọng cấu thành nền tảng tư tưởng, văn hóa của xã hội trong công tác phòng, chống. Luận án trích dẫn đánh giá quốc tế: "Các dân tộc từ chối con đường đau khổ của chủ nghĩa tư bản, có thể nghiên cứu để tìm thấy trong tư tưởng Hồ Chí Minh một hướng đi thích hợp cho sự lựa chọn của mình".

Phần thứ hai của chương nhận diện thực trạng công tác phòng, chống hiện nay, nêu những hạn chế còn tồn tại và xác định phương hướng chỉ đạo. Phần thứ ba đề xuất các định hướng giải pháp theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, Cao Văn Thống (2013) đề xuất 6 giải pháp cụ thể được luận án tham khảo: đổi mới tuyên truyền giáo dục; nâng cao quyết tâm chính trị của cấp ủy; thực hiện kiểm điểm theo chức trách; kê khai tài sản công khai; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.


Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định hai đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Làm rõ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu — lần đầu tiên được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ theo đặc thù chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

  2. Làm rõ giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí và quan liêu, đặc biệt là giá trị thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.

Về ý nghĩa ứng dụng, luận án cung cấp: nhận thức khoa học về nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; luận cứ khoa học về công tác phòng, chống tham ô, lãng phí và quan liêu ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn từ tư tưởng Hồ Chí Minh.

Về kiến nghị và giải pháp, luận án gợi mở các định hướng gắn với: tăng cường lãnh đạo của cấp ủy; phát huy dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất; làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; và phát huy vai trò của báo chí, quần chúng nhân dân trong phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Luận án không trình bày một mục riêng về hạn chế của bản thân nghiên cứu. Tuy nhiên, từ phạm vi nghiên cứu được xác định, có thể nhận thấy một số giới hạn nội tại: phạm vi tư liệu giới hạn trong hai bộ sách (Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, và Biên niên tiểu sử, 2016) mà không bao gồm các tư liệu lưu trữ chưa công bố; phạm vi đối tượng tập trung vào tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên trong khi tham ô, lãng phí, quan liêu trong khu vực tư hoặc xã hội dân sự không được đề cập. Hướng nghiên cứu tiếp có thể mở rộng sang so sánh tư tưởng Hồ Chí Minh với kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của các quốc gia có điều kiện tương đồng, hoặc nghiên cứu tác động cụ thể của việc vận dụng tư tưởng này tại các địa bàn, lĩnh vực nhất định.


Giá trị tham khảo

Luận án có thể hữu ích cho các nhóm người đọc sau:

  • Nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành Hồ Chí Minh học, Chính trị học, Xây dựng Đảng, Triết học, Luật Hành chính: phần xây dựng hệ thống khái niệm (Chương 2) và phần nội dung tư tưởng (Chương 3) cung cấp cách tiếp cận lý luận có hệ thống.

  • Cán bộ làm công tác giảng dạy và đào tạo tại các lớp bồi dưỡng cán bộ kiểm tra, thanh tra của Đảng và Nhà nước: luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo theo đúng xác định của tác giả.

  • Người làm chính sách trong lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng, thanh tra, kiểm tra: phần định hướng giải pháp (Chương 4) và phần tổng quan kinh nghiệm quốc tế (Chương 1) cung cấp luận cứ cho việc xây dựng và điều chỉnh chính sách.

  • Người nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam: phần cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (Chương 2) có tư liệu về truyền thống pháp luật phong kiến, chế độ hồi tị triều Nguyễn và các ảnh hưởng tư tưởng phương Đông.


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt "tham ô" và "tham nhũng" như thế nào?

Theo luận án, "tham ô" là khái niệm hẹp hơn, chỉ hành vi lợi dụng quyền hạn hoặc chức trách để ăn cắp của công (dẫn từ Từ điển Tiếng Việt, Vietlex, 2010). "Tham nhũng" là khái niệm rộng hơn, bao hàm tham ô cùng nhiều hành vi khác — theo Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi 2012) gồm 12 hành vi, từ tham ô tài sản, nhận hối lộ đến lạm quyền, nhũng nhiễu, giả mạo trong công tác. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thuật ngữ "tham ô" được dùng phổ biến, tương đương với nội hàm "tham nhũng" theo nghĩa hiện đại.

2. Theo Hồ Chí Minh, nguyên nhân căn bản của tham ô, lãng phí, quan liêu là gì?

Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân sâu xa là chủ nghĩa cá nhân. Người viết: "Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí" và "Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó." Trong mối quan hệ giữa ba tệ nạn, quan liêu được xác định là yếu tố trực tiếp làm phát sinh và nuôi dưỡng tham ô và lãng phí.

3. Luận án xác định những cơ sở nào hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu?

Luận án phân tích bốn nguồn cơ sở chính: (1) truyền thống gia đình (cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc) và quê hương xứ Nghệ (làng Kim Liên có 53 vị khoa bảng từ 1635–1890, làng Hoàng Trù có 29 vị khoa bảng); (2) chủ nghĩa yêu nước và truyền thống pháp luật phong kiến Việt Nam, gồm Quốc triều hình luật thời Hậu Lê và chế độ hồi tị thời Nguyễn (1802–1945); (3) tinh hoa tư tưởng phương Đông — học thuyết Đức trị của Khổng Tử, tư tưởng Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn; (4) chủ nghĩa Mác - Lênin về phòng, chống tha hóa quyền lực.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh xác định lực lượng nào tham gia phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu?

Theo nội dung trình bày tại Chương 3, lực lượng phòng, chống bao gồm toàn bộ hệ thống chính trị: các cấp ủy Đảng (trước hết là người đứng đầu), chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, báo chí cách mạng và nhân dân. Đây là quan điểm nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh: phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu là nhiệm vụ của "toàn Đảng, toàn dân", không chỉ riêng cơ quan chức năng.

5. Luận án xác định ba giá trị cụ thể nào của tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống hiện nay?

Ba giá trị được luận chứng tại Chương 4 gồm: (1) là sự kết tinh và phát triển những tinh hoa giá trị bền vững của dân tộc Việt Nam và nhân loại trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; (2) là một trong những cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chủ trương, đường lối và lãnh đạo toàn xã hội trong công tác phòng, chống; (3) là yếu tố quan trọng cấu thành nền tảng tư tưởng, văn hóa của xã hội trong công tác này — thể hiện qua vai trò định hướng giá trị đạo đức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Ngọc Anh (2018) hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu thành một chỉnh thể lý luận trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học, lấp một khoảng trống mà các nghiên cứu trước chưa giải quyết trọn vẹn từ góc độ chuyên ngành này. Công trình xây dựng hệ thống khái niệm có nền tảng từ luật thực định và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời truy nguyên cơ sở hình thành tư tưởng qua nhiều tầng lớp văn hóa, lịch sử và lý luận. Trọng tâm của luận án là phân tích nội dung tư tưởng — bao gồm bản chất các tệ nạn, lực lượng và biện pháp phòng, chống — rồi quy chiếu về ba giá trị thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu được xác định có thể sử dụng trong giảng dạy và đào tạo cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra, nội chính của Đảng và Nhà nước.