Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Giáo dục Chính trị với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh với chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa của Đảng ta hiện nay" do sinh viên Đinh Thị Mộng Kiều thực hiện tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lương Văn Tám (hoàn thành tháng 4 năm 2005).

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả đặt đề tài vào giai đoạn tình hình quốc tế có nhiều biến động sâu sắc sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Mặc dù các điểm nóng xung đột và mâu thuẫn tiềm tàng vẫn đe dọa sự ổn định ở nhiều khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác để cùng phát triển đã trở thành xu thế chủ đạo. Đồng thời, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ đã thúc đẩy xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế gắn liền với cạnh tranh gay gắt, đặt ra thời cơ phát triển rút ngắn nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu nhanh chóng hoặc biến các nước chậm phát triển thành "bãi rác công nghệ". Cùng với đó là sự xuất hiện của các vấn đề mang tính toàn cầu như ô nhiễm môi trường đòi hỏi sự phối hợp đa quốc gia. Ở trong nước, công cuộc đổi mới đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải kiên định phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" nhằm giữ vững độc lập tự chủ và thực hiện mục tiêu đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  1. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới; khẳng định tính đúng đắn, phù hợp của chủ trương, chính sách ngoại giao hiện nay với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại; làm tài liệu tham khảo cho sinh viên.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao.
    • Làm rõ sự vận dụng tư tưởng ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung vào hệ thống quan điểm ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phạm vi thời gian nghiên cứu các chính sách đổi mới tập trung từ năm 1986 đến năm 2000 (giai đoạn Đại hội VI đến trước và trong thềm Đại hội IX của Đảng).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận chính trị và lịch sử đường lối đối ngoại. Cơ sở lý luận được xác định gồm ba bộ phận cốt lõi:

  • Hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin (đặc biệt là phép biện chứng duy vật và lý luận về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản với phong trào giải phóng dân tộc).
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, quan hệ quốc tế và nghệ thuật ngoại giao.
  • Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội VI, VII, VIII, IX) cùng các Nghị quyết chuyên đề của Trung ương Đảng giai đoạn 1986 - 2001.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, và phương pháp lịch sử - logic nhằm gắn kết chặt chẽ giữa phân tích lý luận với khảo sát diễn trình thực tiễn cách mạng.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được khai thác từ các tác phẩm, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh (như Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh, Tuyên ngôn Độc lập, tập thơ Nhật ký trong tù, các thư từ ngoại giao giai đoạn 1945 - 1947), văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã công bố:

  • Chuyên khảo "Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh" của Nguyễn Duy Niên (NXB Chính trị quốc gia, 2002).
  • Chuyên khảo "Chủ tịch Hồ Chí Minh trí tuệ lớn của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại" của Nguyễn Phúc Luân (NXB Chính trị quốc gia, 1999).
  • Sách "Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh" (NXB Chính trị quốc gia, 2000).
  • Sách "Ngoại giao Việt Nam" của Lưu Văn Lợi (NXB Công an nhân dân, 2004).
  • Tác phẩm "Ngoại giao Hồ Chí Minh lấy chí nhân thay cường bạo" của Nguyễn Phúc Luân (NXB Công an nhân dân).
  • Các bài nghiên cứu trên Tạp chí Nghiên cứu Lý luận của tác giả Nguyễn Huy Hoan (số 10-2000) và TS. Nguyễn Quốc Bảo (số 8-2000).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao

Chương 1 trình bày hệ thống cơ sở hình thành, các quan điểm bản chất và phương pháp nghệ thuật ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua 3 tiểu mục lớn:

1. Cơ sở hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh:

  • Bối cảnh lịch sử: Phân tích giai đoạn chủ nghĩa tư bản chuyển sang đế quốc chủ nghĩa, lãnh thổ thuộc địa rộng gấp 5 lần chính quốc nhưng số dân chính quốc chưa bằng 3/5 thuộc địa. Tại Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các phong trào Cần Vương (1885 - 1895), Đông Du của Phan Bội Châu ("xuất dương cầu viện"), phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can đều thất bại vì thiếu đường lối đúng đắn và thiếu liên kết quốc tế. Qua hành trình bôn ba gần 30 nước qua 4 châu lục và 3 đại dương, Nguyễn Ái Quốc nhận diện rõ bản chất kẻ thù chung và xác định "chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản".
  • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Cung cấp thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng. Tác giả dẫn chứng phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (1924) khẳng định mối liên hệ hữu cơ giữa cách mạng vô sản ở phương Tây và phong trào giải phóng thuộc địa, ví chủ nghĩa tư bản như "con đỉa có hai vòi" (một vòi bám vào vô sản chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa).
  • Kế thừa truyền thống dân tộc và thế giới: Nền ngoại giao Đại Việt với đặc trưng "hòa hiếu, nhu viễn, trong đế ngoài vương", điển tích Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, tư tưởng "đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" của Nguyễn Trãi và lời di chúc giữ thế "hòa mục" của Trần Hưng Đạo. Về kinh nghiệm quốc tế, Người tiếp thu thuật dùng binh của Tôn Tử ("đánh bằng mưu, thứ hai là đánh bằng ngoại giao"), chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, tư tưởng bất bạo động của Mahatma Gandhi, bài học trường kỳ kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc, và nghệ thuật nhân nhượng có nguyên tắc của V.I. Lênin qua Hòa ước Brest-Litovsk (3/1918).

2. Những quan điểm cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh:

  • Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản. Điểm qua các giai đoạn: 1945 - 1946 tận dụng mâu thuẫn giữa các thế lực đồng minh; 1946 - 1954 kiên trì khả năng cứu vãn hòa bình (gửi 8 bức thư cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp từ 19/12/1946 đến đầu tháng 3/1947), thực hiện phương châm "làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai"; 1954 - 1969 kết hợp hai nền ngoại giao (ngoại giao XHCN miền Bắc và ngoại giao trung lập của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam).
  • Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại: Đề cao chủ nghĩa yêu nước gắn với việc tạo dựng thực lực bên trong. Luận điểm cốt lõi: "thực lực như cái chiêng, chiêng có to tiếng mới lớn"; kết quả đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954 bắt nguồn từ thắng lợi quân sự tại Điện Biên Phủ. Ngay từ phiên họp Chính phủ ngày 23/11/1945, Người đã nhấn mạnh mối quan hệ tương hỗ giữa kinh tế và ngoại giao, sẵn sàng hợp tác kinh tế với các nước kể cả tư bản Pháp trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.
  • Độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn với đoàn kết quốc tế: Tác giả nhấn mạnh phương châm "muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã", độc lập là "chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào". Đoàn kết quốc tế không đồng nghĩa với ỷ lại, lệ thuộc; sự chi viện của Liên Xô, Trung Quốc là điều kiện bổ trợ cho tự lực cánh sinh.

3. Phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh:

  • Phương pháp: Khả năng dự báo khoa học và chớp thời cơ (dự báo việc Pháp mất nước năm 1940 là cơ hội về nước; nhận định Nhật sẽ đảo chính Pháp; bức thư tháng 10/1944 dự báo thời cơ giải phóng trong một năm đến một năm rưỡi). Phương châm chỉ đạo hành động: "nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt".
  • Nghệ thuật: Nhân nhượng có nguyên tắc (chấp nhận nhân nhượng tạm thời quyền lợi cục bộ để bảo toàn lực lượng, thể hiện qua Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946 để đẩy 20 vạn quân Tưởng về nước, kéo dài thời gian chuẩn bị lực lượng) và nghệ thuật khai thác triệt để mâu thuẫn trong nội bộ đối phương.

Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa hiện nay của Đảng

Chương 2 luận giải quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để xây dựng đường lối đối ngoại trong công cuộc đổi mới:

1. Bối cảnh lịch sử hiện nay:

  • Sự chuyển biến của trật tự thế giới sau tháng 12/1991 khi Liên Xô tan rã và Hiệp ước Vacsava giải thể. Cục diện chuyển từ đối đầu hai cực sang xu thế đối thoại, đa cực hóa, vừa hợp tác vừa cạnh tranh kiềm chế lẫn nhau.
  • Cuộc cách mạng khoa học công nghệ (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới) thúc đẩy kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vươn lên phát triển năng động cùng với các cơ chế hợp tác khu vực như APEC, AFTA, SAARC.
  • Thách thức nội tại đối với Việt Nam: điểm xuất phát kinh tế thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, tác động tiêu cực của toàn cầu hóa và âm mưu "diễn biến hòa bình".

2. Quá trình phát triển và hoàn chỉnh đường lối đối ngoại qua các kỳ Đại hội Đảng:

Giai đoạn / Văn kiện Chủ trương đối ngoại then chốt Bước phát triển về tư duy lý luận
Đại hội VI (12/1986) Đặt nền móng đổi mới toàn diện; tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi; củng cố quan hệ đặc biệt với Lào, Campuchia; đoàn kết toàn diện với Liên Xô; sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Chuyển đổi căn bản nhận thức về an ninh, phát triển và quan hệ liên minh; đặt nền móng cho chính sách rộng mở, "thêm bạn bớt thù".
Đại hội VII (6/1991) Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi không phân biệt chế độ chính trị - xã hội; đề ra phương châm: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới". Đột phá về đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ trương gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới.
Đại hội VIII (6/1996) Mở rộng quan hệ với các nước láng giềng, khu vực ASEAN, các nước bạn bè truyền thống và các trung tâm kinh tế - chính trị lớn. Cụ thể hóa mạng lưới đối tác; Nghị quyết Trung ương 4 Khóa VIII (12/1997) xác định phát huy tối đa nội lực kết hợp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Đại hội IX (4/2001) Nhận định toàn cầu hóa là xu thế khách quan; xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập; phát triển khẩu hiệu thành: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế". Khẳng định vị thế, tư cách chủ động và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam; xác định nội lực là yếu tố quyết định hàng đầu trong hội nhập.

3. Tiến trình chủ động hội nhập quốc tế và kinh tế đối ngoại: Khóa luận phân tích các dấu mốc cụ thể khẳng định thành quả phá vỡ thế bao vây cấm vận, gắn kết nền kinh tế quốc gia với thị trường khu vực và toàn cầu:

  • Năm 1992: Khai thông chính thức quan hệ với các định chế tài chính quốc tế gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
  • Năm 1994: Trở thành thành viên liên kết của Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC).
  • Tháng 6/1994: Được công nhận là quan sát viên của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT).
  • Ngày 04/01/1995: Nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
  • Năm 1996: Gia nhập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
  • Tháng 11/1998: Trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tham gia thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia, Kế hoạch Hành động Tập thể (CAP) và Chương trình Hợp tác Kinh tế Kỹ thuật (ECOTECH).

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa di sản lý luận: Làm rõ cội nguồn hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trên cơ sở tích hợp giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống bang giao hòa hiếu thời phong kiến (với các minh chứng lịch sử thời Trần, Hậu Lê) và thế giới quan khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
  • Làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng: Chứng minh tính liên tục và nhất quán trong việc Đảng kế thừa bài học "dĩ bất biến, ứng vạn biến", giải quyết mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế. Việc chuyển biến nhận thức từ "muốn là bạn" (Đại hội VII) sang "sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy" (Đại hội IX) được tác giả phân tích như một bước trưởng thành về tư duy đối ngoại và vị thế thực tiễn của đất nước.
  • Tổng kết các mốc hội nhập kinh tế: Khái quát hệ thống dữ liệu về tiến trình đàm phán, gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực (IMF, WB, ADB, PECC, GATT, WTO, AFTA, APEC) trong thập niên 1990.
  • Đóng góp so với các công trình đi trước: Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình trước đây (của Nguyễn Duy Niên, Nguyễn Phúc Luân, Lưu Văn Lợi) tập trung làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh hoặc khảo cứu chung về ngoại giao, trong khi việc kết nối trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh với việc luận giải tính khoa học của chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa hiện nay của Đảng vẫn còn ít tài liệu đề cập sâu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả công bố, khóa luận chỉ dừng lại ở việc khái quát giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến năm 2000 (với một số cập nhật ở Văn kiện Đại hội IX năm 2001). Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là quá trình đàm phán gia nhập WTO, mới chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị và nộp đơn. Do đặc thù của một khóa luận cử nhân hoàn thành năm 2005, tác giả cũng tự nhìn nhận nghiên cứu vẫn còn những thiếu sót nhất định.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện hơn (sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO) và đánh giá tác động của các định chế thương mại tự do thế hệ mới đối với việc giữ vững độc lập tự chủ về kinh tế.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho:

  • Sinh viên, giảng viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Quan hệ Quốc tế: Cung cấp nguồn trích dẫn hệ thống về các danh ngôn, tác phẩm, văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến sách lược đối ngoại.
  • Người nghiên cứu về lịch sử ngoại giao Việt Nam: Phần tổng thuật các bài học bang giao truyền thống (hòa hiếu, nguyên tắc "trong đế ngoài vương", đối sách nhân nhượng có nguyên tắc năm 1945 - 1946) và bảng tổng kết đường lối đối ngoại qua các kỳ Đại hội VI - IX là tài liệu tổng hợp tiện tra cứu.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận giải thích nguyên tắc "nhân nhượng có nguyên tắc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những sự kiện lịch sử cụ thể nào?
Khóa luận dẫn chứng sự kiện sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi chính quyền cách mạng phải đối phó với 20 vạn quân Tưởng ở miền Bắc và thực dân Pháp ở miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạm thời chấp nhận cung cấp lương thực và nhường một số ghế trong Quốc hội, Chính phủ lâm thời cho lực lượng tay sai của Tưởng để giữ vững chính quyền. Sau đó, Người chủ trương ký Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 và Tạm ước ngày 14/09/1946 tại Paris, chấp nhận nhượng bộ một số quyền lợi kinh tế, văn hóa cho Pháp để đổi lấy việc quân Tưởng rút về nước, qua đó tranh thủ thời gian chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.

2. Tư tưởng ngoại giao truyền thống của dân tộc Việt Nam được tác giả đúc kết qua những đặc trưng cốt lõi nào?
Theo văn bản, đặc trưng bao quát của ngoại giao Đại Việt là "Hòa hiếu, nhu viễn, trong đế ngoài vương". Tinh thần cốt lõi là giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nhưng luôn khiêm nhường, giữ gìn hòa khí với nước lớn láng giềng. Các minh chứng tiêu biểu gồm tư tưởng "hòa hiếu với láng giềng là việc lớn" (Phan Huy Chú), "lấy chí nhân để thay cường bạo" (Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo), phương châm "hòa ở ngoài biên thì không sợ bạo động" (lời di chúc của Trần Hưng Đạo) và bản lĩnh giữ gìn quốc thể của sứ thần Mạc Đĩnh Chi thời Trần.

3. Khẩu hiệu đối ngoại của Đảng đã có sự chuyển biến như thế nào từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội IX (2001)?
Tại Đại hội VII (tháng 6/1991), Đảng đề ra phương châm: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Đến Đại hội IX (tháng 4/2001), phương châm này được hoàn thiện và nâng tầm thành: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế. Phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Văn bản phân tích rằng đây không chỉ là sự thay đổi câu chữ mà khẳng định vị thế chủ động, bình đẳng và tinh thần trách nhiệm quốc tế cao hơn của Việt Nam.

4. Khóa luận ghi nhận các mốc thời gian cụ thể nào trong quá trình Việt Nam thiết lập quan hệ với các tổ chức kinh tế và tài chính quốc tế?
Các mốc được nêu trong khóa luận bao gồm: năm 1992 khai thông quan hệ với IMF, WB, ADB; năm 1994 trở thành thành viên liên kết PECC; tháng 6/1994 trở thành quan sát viên của GATT; ngày 04/01/1995 chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO; năm 1996 gia nhập khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA); và tháng 11/1998 chính thức trở thành thành viên của APEC.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thị Mộng Kiều đã hệ thống hóa toàn diện các luận điểm cốt lõi trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, từ nguồn gốc hình thành, phương châm hành động đến nghệ thuật sách lược trong đấu tranh cách mạng. Công trình phân tích sáng rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng linh hoạt di sản tư tưởng đó vào đường lối đổi mới đối ngoại giai đoạn 1986 - 2001, hiện thực hóa chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Văn bản cung cấp nguồn dữ liệu lịch sử và văn kiện chuẩn xác, đáp ứng mục tiêu làm tài liệu học tập, tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị.