đặt vấn đề Đảng lãnh đạo như thế nào và lãnh đạo bằng cái gì, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, lý luận rất quan trọng: “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [56, tr 233]. Vì kém lý luận nên không biết xem xét đánh giá đúng sự vật, hiện tượng; không biết nhanh chóng xử trí, giải quyết đúng những mâu thuẫn; không nhận rõ được điều kiện, hoàn cảnh khách 15 z quan, chủ quan; ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy, kết quả thường thất bại. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của lý luận, đặc biệt là lý luận Mác - Lênin; đồng thời Người cũng rất coi trọng công tác lý luận của Đảng nhằm nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của tổ tiên trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, theo Người, đó là “sự tổng kết những kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay ở tất cả các nước,… khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, khoa học về cách mạng quần chúng bị áp bức và bị bóc lột…khoa học về xây dựng chủ nghĩa xã hội cộng sản” [59, tr 10].
Nhìn nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin như một giá trị, một thành tựu văn hóa của loài người, Hồ Chí Minh khẳng định Đảng ta – một Đảng tập trung những tinh hoa về tư tưởng, trí tuệ của giai cấp công nhân và dân tộc phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác - Lênin để làm giàu văn hóa của mình, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ sự quan tâm sâu sắc đến lý luận và công tác lý luận; đặc biệt, Người hết sức coi trọng việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Hầu như trong các bài viết và câu nói của Người đều gắn với thực tế Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, sự “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”; “Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”; Đảng cần mở trường để giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ đảng viên; việc học tập lý luận đó không phải nhằm biến họ thành những người lý luận suông mà nhằm làm cho 16 z công tác của họ ngày càng tốt hơn, lập trường tư tưởng vô sản của họ ngày càng vững vàng hơn; học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là “học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin”; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin “để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” [59, 497].
Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình hoạt động tự giác của đông đảo quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm giải quyết hàng loạt nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp. Để vượt qua mọi trở ngại, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ thực tiễn đó và tránh được những sai lầm, vấp váp, tăng cường và giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình, Đảng cần có sự chỉ dẫn của lý luận khoa học, cách mạng. Lý luận cách mạng giúp Đảng định hướng đúng mọi hoạt động; dự đoán được các bước phát triển của cách mạng, của xã hội trong tương lai; tạo lập niềm tin, kiên định lập trường tư tưởng vô sản. Trình độ lý luận cao là cơ sở đầu tiên tạo lập cho Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi biến động ở trong nước và trên thế giới; đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, tránh được các khuynh hướng máy móc, giáo điều, chủ quan nóng vội; không hoang mang dao động trước những diễn biến phức tạp.
Vì vậy, mọi đảng viên phải ra sức học tập lý luận Mác - Lênin, “cố gắng năm vững những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam” [61, tr 21]. Năm 1960, khi tổng kết những hoạt động của Đảng ta, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng trong 30 năm ấy, Đảng ta đã luôn luôn đứng vững trên lập trường vô sản, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp và của nhân dân; đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn; không ngừng đấu tranh chống những khuynh hướng cải lương, manh động, “tả”, “hữu” khuynh; lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi hết sức to lớn. Sở dĩ cách mạng 17 z đạt được những thành tựu to lớn đó là vì Đảng ta trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng. Người kết luận: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Đảng ta vượt qua những trận thử thách ấy” [61, tr 17].
Xuất phát từ nhận thức đánh giá cao vai trò của lý luận cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng không lúc nào được xao nhãng công tác lý luận, Đảng phải quan tâm giáo dục lý luận cho đội ngũ cán bộ đảng viên, phải ra sức tuyên truyền đường lối chính sách cho dân hiểu, dân đi theo Đảng. Trong hoạt động lý luận, Người luôn nhắc nhở Đảng ta phải giữ vững nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tiễn bởi vì thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc tối cao của Chủ nghĩa Mác - Lênin mà đảng Cộng sản phải nắm vững trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Đảng phải dùng lý luận như một phương pháp để phân tích tình hình thực tiễn, đề ra nhiệm vụ, cả nhiệm vụ lâu dài lẫn nhiệm vụ trước mắt. Mỗi một giai đoạn lại gắn với một khẩu hiệu hành động để tập hợp quần chúng, gây dựng phong trào, lãnh đạo đấu tranh.
Thực chất, đó là một quá trình thực tiễn hóa lý luận, phản ánh trí tuệ và bản lĩnh chính trị của Đảng trước những sóng gió của dân tộc và thời đại. Nhớ lại những tháng ngày lịch sử sau năm 1945, khi kẻ thù buộc chúng ta phải cầm súng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã phát động kháng chiến chống Pháp đúng lúc, định ra được quan điểm cơ bản trong đường lối kháng chuến với phương châm chiến lược: toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Trong quá trình hoạch định đường lối và chỉ đạo kháng chiến, Đảng luôn giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, gắn cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam với việc bảo vệ hòa bình thế giới, gắn nhiệm vụ đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn với con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với đường lối kháng chiến đúng đắn, Đảng đã phát huy được sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc trong cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại.
Chiến thắng Điện 18 z Biên Phủ vào mùa hè năm 1954 đã buộc thực dân Pháp phải vào vòng đàm phán, ký hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương, Pháp phải công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc Đông Dương. Chín năm kháng chiến thắng lợi giải phóng Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Với thắng lợi vĩ đại này, Đảng ta, với tư cách là một Đảng cầm quyền đã khẳng định được trí tuệ và bản lĩnh của mình thông qua việc huy động các bài học kinh nghiệm thành công trước đây để xây dựng đường lối chiến lược mới cũng như giữ vững niềm tin “kháng chiến nhất định thắng lợi”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.
Một lần nữa chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi đường cho giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam kháng chiến cứu nước thành công, giữ gìn thành quả cách mạng của mình” [61, tr 12]. Bên cạnh trình độ lý luận và tiềm lực trí tuệ, năng lực cầm quyền của Đảng còn thể hiện ở khả năng tư duy khoa học nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp của thực tiễn cách mạng. Nói khoa học, trước hết và quan trọng nhất chính là nghiên cứu và nắm vững quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản, quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một hệ thống quan điểm có tính quy luật về Đảng cầm quyền, chứa đựng nhiều giá trị lãnh đạo, mà một Đảng cầm quyền không tuân thủ thì thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, Đảng không gắn bó với dân, chẳng khác gì Đảng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại. Bởi vậy, Đảng phải liên hệ mật thiết với nhân dân. 19 z Liên hệ mật thiết với nhân dân là mối liên hệ bản chất của Đảng Cộng sản, là sự thể hiện lập trường giai cấp công nhân của Đảng trong việc giải quyết mối quan hệ với quần chúng lao động, với nhân dân các dân tộc; là một nguyên lý cơ bản trong học thuyết Mác – Lênin, được Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo, phát triển làm phong phú thêm trong hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam. Nếu xa rời nhân dân, cắt đứt mối quan hệ với nhân dân, theo Lênin, là một trong những nguy cơ lớn nhất của Đảng cầm quyền.
Trong chiều sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, dân là gốc của nước, là nguồn sức mạnh, là lực lượng to lớn của Đảng, của cách mạng. Trí tuệ và năng lực sáng tạo của Đảng bắt nguồn từ quần chúng nhân dân. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra. Từ đó, Người tổng kết: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân.
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [56, tr 698].