Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 1. Tư tưởng pháp quyền phương Tây Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã hình thành sớm trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý của nhân loại và ngày càng được bổ sung với những nội dung mới. Nhiều người lầm tưởng nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước – một nhà nước đạt trình độ cao. Thực chất nhà nước pháp quyền không phải một hình thức nhà nước, mà là một phương thức quản lý, điều hành nhà nước: Quản lý, điều hành bằng pháp luật.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền xuất hiện từ thời cổ đại ngay từ khi xã hội nguyên thủy tan ra, chuyển sang xã hội chiếm hữu nô lệ. Cùng với sự phát triển của nền văn minh Hy Lạp – La Mã, các nhà tư tưởng đã tìm kiếm những nguyên tắc, những hình thức, cơ chế trong sự tương hỗ giữa pháp luật với tổ chức và hoạt động của nhà nước, nhằm có được một phương thức quản lý, điều hành nhà nước hiệu quả, đáp ứng mục đích cao đẹp của con người. Nhà nước pháp quyền là học thuyết về việc tổ chức và hoạt động nhà nước được sinh ra trong phong trào đấu tranh để giải phóng nhân loại khỏi chế độ phong kiến chuyên chế do các học giả phương Tây đưa ra vào thế kỷ XVIII - XIX mặc dù tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã sớm hình thành từ thời cổ đại, người ta đã tìm kiếm các nguyên tắc, hình thức và cơ chế để thiết lập mối quan hệ qua lại, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự tác động qua lại giữ pháp luật và quyền lực. Nói đến nhà nước pháp quyền là nói đến một nhà nước được tổ chức hài hòa giữa quyền lực và pháp luật, tôn trong tính tối cao của luật.
Do vậy người ta thường gắn Nhà nước pháp quyền với dân chủ. Vào thế kỷ VI trước Công nguyên, nhà thông thái Xôlông đã đưa ra tư tưởng táo bạo và 6 z không thể chấp nhận với thời bấy giờ khi người ta coi pháp luật hoàn toàn thuộc về kẻ mạnh. Ông đã diễn đạt tư tướng đó của mình… Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật. Xôlông đã đưa ra những nguyên tắc tổ chức nhà nước, mong sao có sự nhượng bộ cho nhân dân, hạn chế những đặc quyền, đặc lợi của giới quý tộc.
Dân chúng có những quyền nhất định như quyền bầu ra những người cai quản mình, quyền giám sát họ. Ông cho rằng, đất nước chỉ có thể thanh bình nếu như có những đảm bảo: chính quyền mạnh và có pháp luật, chỉ có pháp luật mới đảm bảo được trật tự và sự hòa hợp. Trong nhà nước pháp quyền thì không chỉ đảm bảo việc tôn trọng pháp luật mà còn phải đảm bảo pháp luật chứa đựng nội dung công bằng, của công lý và của số đông. Platon cho rằng: Chúng ta thừa nhận những nơi mà luật được định ra vì lợi ích của một số người, thì ở đó không có chế độ nhà nước, chỉ có thể gọi là nhà nước khi có sự công bằng.
Tiếp nhận một cách xứng đáng những thành quả của người thầy của mình. Arixtốt cho rằng, nơi nào không có sức mạnh của luật thì nơi đó không có hình thức nhà nước. Theo ông khái niệm công bằng gắn liền với quan niệm của nhà nước, bởi vì pháp luật – tiêu chuẩn của sự công bằng là quy phạm điều chỉnh của giao tiếp chính trị. Ông lên án việc cầm quyền không tuân theo luật, chà đạp lên đạo luật, mưu toan thống trị bằng bạo lực [28].
Tới đầu Công nguyên, Xixenron tiến thêm một bước: Các đạo luật do nhà nước quy định phải phù hợp với tính công minh và quyền tự nhiên vì: Sự phù hợp chính là tiêu chuẩn để đánh giá tính công minh của chúng. Người điều hành công việc nhà nước phải công minh, sang suốt, phải hiểu biết những nguyên lý cơ bản của pháp luật; nếu không có những năng lực đó thì người ta không thể công minh được. Tư tưởng nhà nước pháp quyền phát triển thành hệ thống từ sau thắng lợi của các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc 7 z tài. Thời kỳ này, các nhà tư tưởng không chỉ đề cao pháp luật mà còn nâng cao tinh thần pháp luật trong nhà nước và xã hội.
Linbéc đòi xóa bỏ chế độ nhà nước quân chủ và cùng với nó là quyền lực tập trung ở nhà vua, tách quyền lập pháp khỏi quyền hành pháp, bảo đảm pháp chế dân chủ tư sản và quyền tự do dân chủ. Còn theo Spinoza xã hội sẽ tốt đẹp hơn khi nó được xây dựng trên cơ sở một khế ước chuyển sức mạnh và quyền của mỗi con người thành sức mạnh chung của toàn xã hôi; ông chủ trương xây dựng một nhà nước mà trong đó quyền lực tối cao thuộc cơ quan đại diện ban hành luật và kiểm tra việc tuân thủ luật. Thừa kế và phát triển tư tưởng pháp luật, tinh thần pháp quyền của xã hội Jonh Locke vạch ra nguy cơ của sự tùy tiện và xâm phạm từ phía quyền lực nhà nước đối với các quyền tự do của con người bắt nguồn từ độc quyền của người cầm quyền. Ông đặc biệt đề cao chủ quyền nhân dân, chủ quyền của nhân dân cao hơn, quan trọng hơn.
Chủ quyền của nhà nước do nhân dân lập nên, việc điều hành nhà nước phải có đạo luật và dựa trên các đạo luật do nhân dân tuyên bố. Jonh Locke đã đưa ra ba kết luận quan trọng. Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân. Quyền lực của dân là cơ sở, nền tảng của quyền lực nhà nước.
Trong quan hệ với dân, về bản chất nhà nước không có quyền mà chỉ là thực hiện sự ủy quyền của dân [28]. Nhà nước – xã hội chính trị -xã hội công dân, thực chất là một “khế ước xã hội”, trong đó các công dân nhượng một phần quyền lực của mình để hình thành quyền lực chung – quyền lực nhà nước. Nhà nước với quyền lực chung đó là điều hành, quản lý xã hội nhằm bảo toàn quyền lực tự nhiên của mỗi cá nhân công dân. Vì thế, mỗi khi hợp đồng bị vi phạm, chính quyền làm sai, lạc mục đích của hợp đồng, khi đó công dân có quyền hủy bỏ “khế ước” đã ký.
Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người đó cũng là tiêu chí căn bản xác định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước. Đi qua giới 8 z hạn này, chính quyền dễ trở thành chuyên chế, kẻ thù của tự do, đối tượng của cách mạng. Tư tưởng chính trị của Jonh Locke gắn liền với các sự kiện tiến bộ trong lịch sử phát triển của nhân loại suốt thể kỷ XVIII, XIX. Các nhà lịch sử tư tưởng chính trị đều coi ông là “người cha của chủ nghĩa tự do” [28].
Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Montesquieu không chỉ làm rõ tính tất yếu của pháp luật trong điều hành nhà nước, mà còn đòi hỏi nhà nước phải sử dụng luật có hiệu lực và hiệu quả. Theo ông, tự do chính trị của công dân đó là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép. Như vậy tự do chính trị chỉ có ở những quốc gia mà tất cả các quan hệ đều được pháp luật công nhận, pháp luật như vậy đã trở thành thước đo tự do. Nhưng pháp luật sẽ bị phá bỏ nếu những người nắm quyền lực tối cao lạm quyền.
Trong khi đó, “kinh nghiệm thực tế từ bao thế kỷ đều cho thấy rằng những người nắm quyền lực đều có thiên hướng lạm quyền” mà cách hữu hiệu nhất để chống lạm quyền là chống độc quyền, là phân chia để cho “quyền lực kiềm chế quyền lực” [19]. Khi đó sự tối cao của pháp luật được đảm bảo, công dân được tự do. Montesquieu chủ trương thể chế chính trị tư do phải là thể chế chính trị mà trong đó, quyền lực tôi cao được phân chi thành 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sao cho 3 quyền ấy cân bằng và kiềm chế lẫn nhau.
Theo Rousseau, xã hội phải lập ra khế ước và mọi người phải tuân thủ khế ước đó. Quyền lực nhà nước thuộc về xã hội, nó phải là quyền lập pháp và hành pháp. Quyền lập pháp là ý chí của nhà nước, quyền hành pháp thể hiện sức mạnh của nhà nước, nó thuộc về ai là do nhân dân quyết định. Bên cạnh đó có một cơ quan đặc biệt để bảo vệ pháp luật, đó là tòa án.
Nhà triết học Kant nâng cao thêm một bước về bản chất và ý nghĩa của nhà nước pháp quyền. Theo ông, nguồn gốc của các đạo luật có tính pháp quyền và hợp đạo đức chính là lý trí thực tế hay ý chí tự do của con người; pháp luật là cái bảo đảm quan hệ văn minh giữa người với người; nhà nước là 9 z sự hợp nhất của nhiều người biết phục tùng các đạo luật có tính pháp quyền nhằm bảo vệ trật tự xã hội. Theo Kant, quan hệ văn minh đó thể hiện ở sự bình đẳng của mỗi công dân trước pháp luật. Điều đó nói lên chủ quyền của công dân trong nhà nước.
Chủ quyền đó chỉ được thực hiện trên thực tế thông qua sự phân công quyền lực nhà nước. Chỉ có sự phân công và phối hợp hài hòa giữa 3 quyền mới ngăn ngừa được sự chuyên chế, độc tài. Tinh thần pháp quyền của nhà nước, của xã hội cũng được nâng lên một tầm mới trong tư tưởng của Heeghen. Trong triết học pháp quyền, Heeghen cho rằng nhà nước pháp quyền là nhà nước do các yếu tố xã hội công dân, trật tự pháp luật và các đạo luật mang tính pháp quyền tạo ra.
Đối lập với nhà nước pháp quyền là nhà nước cực quyền với cấu trúc của nó là các yếu tố xã hội khép kín, bộ máy nhà nước quan lieu và hệ thống pháp luật mang tính chất mệnh lệnh, tùy tiện. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời kỳ cận đại tiếp thu, phát triển các tư tưởng của các nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị, đặc biệt là của Jonh Locke, Montesquieu, Kant, Heeghen, chúng được phát triển ngày càng sâu sắc trong tư tưởng của các nhà chính trị học, nhà luật học như Tô mát Jêphécxơn tác giả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776, Tô mát Pen, Jon Addam, JemMe đi xơn [28]. Điểm chung của các nhà tư tưởng thời cận đại là: Nhà nước tổ chức, vận hành trên cơ sở pháp luật, nó phải tuân thủ pháp luật, đặt mình dưới pháp luật.