phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI TƢ TƢỞNG DUY TÂN CỦA NGUYỄN THƢỢNG HIỀN 1.Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 1. Tình hình thế giới Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền hay chủ nghĩa đế quốc, tiêu biểu là các nước Anh, Đức, Pháp, Mỹ. Các nước đế quốc tăng cường xâm lược các nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh làm thuộc địa nhằm bành trướng thế lực và đáp ứng những yêu cầu phát triển của chủ nghĩa đế quốc.
Sự xâm lược và bóc lột thực dân làm cho nhân dân các thuộc địa rất khổ cực. Mâu thuẫn giữa các đế quốc với các dân tộc thuộc địa và mâu thuẫn giữa các đế quốc với nhau ngày càng gay gắt. Mâu thuẫn giữa các nước đế quốc lên tới đỉnh điểm là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914- 1918) đã làm các nước tư bản suy yếu, do đó, các chính sách áp bức, bóc lột đối với các nước thuộc địa ngày càng tàn bạo. Các nước phương Đông như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
từ trước tới nay vẫn tôn sùng Nho giáo và xây dựng lên đến đỉnh cao của chế độ quân chủ trung ương tập quyền chuyên chế, trước tình hình mới các nước bắt đầu rơi vào thế bế tắc, khủng hoảng về con đường phát triển sao cho ngang bằng với thời đại. Sự xâm lược của đế quốc phương Tây đã làm phá vỡ mô hình kinh tế truyền thống, làm thay đổi cơ cấu giai tầng trong xã hội. Bên cạnh đó, sự xâm lược này cũng dần tạo ra sự chuyển biến trong xã hội phương Đông, đó là mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới. Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới: thời đại cách mạng chống 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới.
Sau cách mạng Tháng Mười Nga thành công, nhà nước xã hội chủ nghĩa được thành lập- đó là chính quyền Xô Viết Nga. Tuy chỉ tồn tại trong hơn 70 năm, nhưng mô hình xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu đã đóng góp nhiều thành tựu vào nền văn minh nhân loại, góp phần đưa thế giới thoát khỏi thảm cảnh phát xít và cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Tình hình thế giới có nhiều bước chuyển về kinh tế, chính trị, xã hội đã tác động mạnh mẽ đến sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam, làm cho cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Việt Nam có những đặc điểm mới. Tình hình kinh tế- chính trị- xã hội Việt Nam * Sự xuất hiện thể chế chính trị mới ở Việt Nam Nửa cuối thế kỷ XIX, Pháp đã là một nước đế quốc hùng mạnh với hệ thống thuộc địa rộng lớn đứng thứ hai thế giới sau nước Anh.
Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để xâm lược Việt Nam. Trải qua 15 năm từ 1883 đến 1896 để “bình định”, thực dân Pháp bắt đầu thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành chương trình khai thác thuộc địa, nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa. Mục đích tối cao của thực dân Pháp là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn trọng yếu, nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất cho tư bản chính quốc. Cuối thế kỷ XIX, Việt Nam từ một nước độc lập và thống nhất đã trở thành thuộc địa của thực dân, tên nước ta đã bị mất trên bản đồ thế giới.
“Chia để trị” là chính sách lớn của thực dân Pháp thực hiện ở Đông Dương. Thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương bao gồm các thành phần: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Campuchia. Nước ta bị chia thành ba kỳ với các chế độ chính trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ vẫn giữ chính quyền phong kiến bù nhìn nhưng dưới sự bảo hộ của Pháp; Nam Kỳ, Lào và Campuchia là 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm quyền. Thực dân Pháp đã xóa tên nước ta, Lào và Campuchia khỏi bản đồ thế giới, đứng đầu Liên bang Đông Dương là Toàn quyền, thay mặt chính phủ Pháp cai trị toàn Đông Dương, biến vua quan nước ta thành bù nhìn và làm tay sai cho chúng.
Triều đình Huế vẫn còn đó nhưng không có quyền hành gì ngoài việc vâng lệnh thực dân Pháp, cung cấp lính tráng để đàn áp nhân dân. Triều đình phong kiến chính là cái danh nghĩa để Pháp tiến hành tiêu diệt các cuộc khởi nghĩa chống thực dân. Vị vua nào không tuân theo chúng (Vua Thành Thái, Vua Duy Tân) thì bị đi đày phương xa. “Sự tồn tại của triều đình Huế biểu hiện một cuộc đồng minh giữa thực dân và các lực lượng phong kiến chống phong trào giải phóng dân tộc, chống mọi sự tiến bộ dân chủ” [13; 20].
Sau hai cuộc khai thác thuộc địa với phương châm “lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh”, thực dân Pháp càng thể hiện sự bóc lột tàn bạo đối với nhân dân ta, chúng làm nền kinh tế nước ta trở nên què quặt, mất cân đối, là nền kinh tế thuộc địa, phụ thuộc lớn vào tư bản chính quốc. Ban đầu chủ trương của thực dân Pháp là lợi dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt để cai trị. Nhưng sau khi đã xây dựng và củng cố được quyền lực của mình, thực dân Pháp tìm cách gạt bỏ vai trò của triều đình phong kiến, lôi kéo giới thượng lưu về phe chúng nhằm chống lại nhân dân ta, làm cho tình hình chính trị và sự phân hóa xã hội Việt Nam ngày càng gay gắt. *Sự thay đổi về cơ cấu xã hội Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, tính chất xã hội Việt Nam đã thay đổi.
Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Nền kinh tế Việt Nam chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thời phong kiến sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tuy nền kinh tế có bước phát triển nhưng lại mất cân đối làm cho cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có sự phân hóa không rõ ràng. Bắt đầu từ giai đoạn này, xã hội Việt Nam xuất hiện một bộ phận mới là giai cấp tư sản, tiểu tư sản và giai cấp công nhân cũng bắt đầu manh nha hình thành.
Kết cấu xã hội cũng có sự thay đổi, nếu như trong thời kỳ phong kiến kết cấu xã hội theo tứ dân: sĩ, nông, công, thương thì trong thời kỳ phong kiến- nửa thuộc địa sự phân chia giai cấp dựa theo quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng phương Tây. Trong thời kỳ này, xã hội Việt Nam có một số giai cấp cơ bản như sau: Giai cấp địa chủ phong kiến: Đây là giai cấp vốn có từ lâu trong lịch sử. Giai cấp địa chủ bị phân hóa thành hai bộ phận: thứ nhất, một bộ phận trở thành tay sai, hậu thuẫn của thực dân Pháp. Bộ phận này do được sự bảo hộ của thực dân nên rất mực trung thành, họ xa rời dân chúng, giúp chính quyền thực dân cai trị chặt chẽ xã hội và ra sức bóc lột nhân dân.
Bộ phận thứ hai là những gia đình địa chủ phong kiến nhỏ nhưng có tinh thần dân tộc, lòng căm thù giặc, họ ủng hộ và tham gia các phong trào nổi dậy chống thực dân Pháp hoặc chống cả triều đình phong kiến bù nhìn. Bộ phận thứ hai này vẫn là địa chủ nhưng lòng yêu nước trong họ chưa hề tan biến, thậm chí một số khá đông các địa chủ này vẫn giữ truyền thống yêu nước tốt đẹp đến mãi đời con cháu họ. Giai cấp nông dân: Là giai cấp chiếm 90% dân số, là đối tượng bóc lột của thực dân và phong kiến. Họ bị tư bản và địa chủ thẳng tay cướp đoạt ruộng đất để tập trung làm đồn điền, chính sự tập trung ruộng đất đã tạo ra sự phân hóa giai cấp ở nông thôn ngày càng sâu sắc.
Số bần nông không đất hay không đủ đất cày chiếm đa số nông dân. Thêm vào đó, sưu cao thuế nặng làm cho nông dân bị ly tán, một số người dân bị bần cùng hóa và ra thành phố kiếm sống. Những cuộc đấu tranh của nông dân ở nhiều vùng miền đã nổ ra 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạnh mẽ, tuy thất bại nhưng vẫn thể hiện tinh thần phản kháng quyết liệt đối với chính quyền nửa thực dân, nửa phong kiến. Giai cấp công nhân: Đây là giai cấp mới xuất hiện với lực lượng còn rất mỏng.
Xuất thân của họ từ nhiều thành phần khác nhau nhưng chủ yếu từ nông dân bị bần cùng hóa và không còn tư liệu sản xuất là ruộng đất trong tay. Một bộ phận công nhân khác có trình độ không chuyên nghiệp, họ chỉ là công nhân thời vụ, họ tranh thủ lúc nông nhàn để ra thành phố làm thuê kiếm sống, bộ phận này vẫn gắn bó chặt chẽ với nông thôn. Đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, số lượng công nhân tăng lên khoảng 10 vạn người, họ tập trung ở một số thành phố lớn như Hải Phòng, Nam Định, Quảng Ninh, Vinh, Sài Gòn. hình thành nên một giai cấp mới.
Do chương trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp là bóc lột nhân công rẻ mạt nên công nhân Việt Nam thời kỳ này chủ yếu là lao động chân tay, họ không được tiếp xúc với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thực thụ, tức là không được tiếp cận với máy móc hiện đại, không có trình độ văn hóa, không có bất cứ quyền tự do nào. Chính sự bóc lột trực tiếp một cách tàn nhẫn đó đã hun đúc tinh thần yêu nước, tinh thần đấu tranh và sớm giác ngộ ý thức giai cấp. Họ trở thành một bộ phận quan trọng trong quá trình tiếp biến tư tưởng ở Việt Nam. Giai cấp tư sản: Sự cai trị của thực dân Pháp mang theo nền kinh tế tư bản đã sản sinh ra một bộ phận các nhà thầu khoán, những nhà làm đại lý cho giới tư bản và những nhà kinh doanh thương nghiệp.